ĐẶT VẤN ĐỀ Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng luôn là ba yếu tố không thể tách rời trong mọi hoạt động nhằm hƣớng tới phát triển bền vững. Trong đó, vấn đề môi trƣờng đã và đang trở thành mối quan tâm lớn nhất của toàn nhân loại. Việt Nam là nƣớc đang phát triển, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực nhằm góp phần nâng cao đời sống tinh thần của ngƣời dân. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội thì một loạt hệ thống bệnh viện, cơ sở y tế của nhà nƣớc và tƣ nhân đã và đang đƣợc đầu tƣ xây dựng trên phạm vi cả nƣớc từ đó kéo theo khối lƣợng chất thải y tế cũng ngày một nhiều hơn.
Theo thống kê, mức tăng chất thải y tế hiện nay là 7,6%/năm. Dự kiến đến năm 2015, tổng lƣợng chất thải rắn y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020 là 800 tấn/ngày. Với khối lƣợng chất thải y tế lớn nhƣ vậy, nếu không đƣợc xử lý một cách triệt để chắc chắn sẽ tiềm ẩn những nguy cơ với môi trƣờng và cuộc sống hàng ngày. Ƣớc tính mỗi ngày có khoảng 350 tấn chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế, trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn nguy hại, mức độ gia tăng khoảng 7,6%/năm.
Trong đó, có khoảng 60 – 70 tấn là rác thải độc hại, phải xử lý. Tuy nhiên, chỉ có 1/3 số chất thải rắn đƣợc đốt bằng lò đốt hiện đại và có thể đảm bảo an toàn môi trƣờng… Khảo sát của Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trƣờng cho thấy, cả nƣớc mới chỉ có gần 200 lò đốt chuyên dụng. Tuy nhiên gần 200 chiếc lò đốt này hiện phải xử lý rác thải y tế cho 435 bệnh viện, chiếm khoảng 40% số bệnh viện. Theo nhƣ báo hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có hơn 50% bệnh viện đã đƣợc đầu tƣu hệ thống xử lý chất thải nguy hại.
Trong đó có bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai đã và đang đƣợc đầu tƣ xây mới với quy mô giƣờng bệnh sắp tới sẽ tăng từ 80 lên thành 150 giƣờng bệnh để đáp ứng nhu cầu, cũng nhƣ phục vụ ngƣời dân, bệnh viện cũng đã đƣợc đầu tƣ hệ thống lò đốt hiện đại nhất hiện nay, để phục vụ cho công tác xử lý CTR của bệnh viện một cách tốt nhất. Vì vậy công tác quản lý chất thải rắn y tế bệnh viện càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, nhằm hạn chế thấp nhất mức độ nguy hại của nó với con ngƣời. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó tôi xin chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai”. Để có thể nắm bắt đƣợc tình hình phát sinh CTR y tế của bệnh viện, phân loại thu gom và xử lý chất thải y tế của bệnh viện và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả quản lý của bệnh viện.
1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thải rắn y tế 1. Thành phần chất thải rắn y tế Thành phần vật lý Thành phần vật lý bao gồm các dạng sau: - Bông vải sợi: bông băng, gạc, quần áo, khăn lau. - Giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh.
- Nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền. - Thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm. - Kim loại: dao kéo, kim tiêm. Thành phần hóa học Chia làm 2 loại: Vô cơ: hóa chất, thuốc thử.
Hữu cơ: vải sợi, thành phần cơ thể, thuốc, hóa chất. Thành phần sinh học - Gồm: máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ. - giữ và xử lý nhƣ chất thải lây nhiễm. Thành phần CTRYT ở Việt Nam Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ Các thành phần chất thải (%) nguy hại Các chất hữu cơ 52,9 Không Chai nhựa PVC, PE, PP 10,11 Có Bông băng 8,8 Có Vỏ hộ kim loại 2,9 Không Chai lọ thủy tinh, xy lanh thủy tinh, 2,3 Có ống thuốc thủy tinh Kim tiêm, ống tiêm 0,9 Có Giấy loại, cactton 0,8 Không Các bệnh phẩm sau mổ 0,6 Có Đất cát, sành sứ và các chất rắn 20,9 Không khác Tổng cộng 100 Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6 (Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại 2014) 2 Thành phần CTRYT chủ yếu là chất thải hữu cơ không đọc hại, chiếm tới hơn 50%, lƣợng CTRYTNH chiếm 22,6% thấp hơn rất nhiều tuy nhiên mức độ nguy hại đối với con ngƣời và môi trƣờng mà nó gây ra là chủ yếu.
Ngoài ra lƣợng CTYT có thể tái chế, tái sử dụng đƣợc cũng tƣơng đối thấp khoảng 5%. Phân loại chất thải rắn y tế 1. Chất thải thông thường Chất thải thông thƣờng là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách lý). Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế nhƣ các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xƣơng kín.
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim… - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Chất thải lây nhiễm Nhóm chất thải lây nhiễm đƣợc Bộ Y tế phân thành 4 nhóm loại chất thải theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, trong đó bao gồm: Bảng 1. Phân nhóm chất thải y tế Phân Tên phân nhóm Thành phần nhóm Bơm tiêm, kim tiêm, lƣỡi và cán dao, đinh A Chất thải sắc nhọn mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh vỡ thủy tinh. Những vật liệu thấm máu, thấm dịch: Chất thải lây nhiễm không sắc B bông, gạc, bang, dây truyền máu, các ống nhọn dây lƣu dẫn.
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm Găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh C cao phẩm… Mô, cơ quan ngƣời: chân, tay, rau thai, bào D Chất thải giải phẫu lây thai (Nguồn: Bộ y tế - 2007) 1. Chất thải phóng xạ - Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn 3 đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ gồm: dạng rắn, lỏng và khí. - Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị nhƣ ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị nhƣ nƣớc tiểu của ngƣời bệnh, các chất bài tiết, nƣớc xúc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ… 1.
Chất thải hóa học nguy hại Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại nhƣ đƣờng, axit béo, axit amin, một số loại muối…và hóa chất nguy hại nhƣ formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng… Chất thải hóa học nguy hại gồm: - Dƣợc phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng - Formaldehit: Đây là hóa chất thƣờng đƣợc sử dụng trong bệnh viện, nó đƣợc sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn. Nó đƣợc sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ƣớp xác… - Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa X_Quang - Các dung môi: Các dung môi gồm các hợp chất của halogen nhƣ metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi nhƣ halothane; các hợp chất không chứa halogen nhƣ xylene, axeton, etyl axetat… - Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn nhƣ phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh… - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ ngƣời bệnh đƣợc điều trị bằng hóa trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ), Cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). Bình chứa áp xuất Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình gas, bình khí dung.
Các bình này dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không đƣợc tiêu hủy đúng cách (Bộ Y tế, 2007). Nguyên tắc phân loại chất thải y tế: - Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thƣờng phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh. - Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lƣu chứa chất thải theo quy định tại Điều 5 [TTLT 58/2015-BYT-BTNMT] thông tƣ này. Trƣờng hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tƣơng tác với nhau và áp dụng cùng một phƣơng pháp xử lý có thể đƣợc phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lƣu chứa.
- Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngƣợc lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lƣu giữ và xử lý nhƣ chất thải lây nhiễm. Tác hại của chất thải rắn y tế 1. Đối với môi trường a. Tác hại đối với môi trường đất: Đối với CTRYT nếu áp dụng công nghệ chôn lấp thì các vi sinh vật gây bệnh, các hóa chất độc hại có thể ngấm vào đất gây nhiễm độc làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn.
Tác hại đối với môi trường nước: CTRYT của bệnh viện có chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao nhƣ: samonella, coliform, tụ cầu, liên cầu. Trực khuẩn Gram âm đã kháng. Do đó, CTRYT nếu không đƣợc xử lý trƣớc khi thải bỏ thì có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nƣớc. Mặt khác nếu áp dụng công nghệ chôn lấp, nếu không đƣợc thực hiện đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh.
Đặc biệt là CTRYT đƣợc chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm. Tác động đối với môi trường không khí: Chất thải của bệnh viện khi phát xinh cho đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trƣờng không khí.