Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh hơn 70% dân số Việt Nam sinh sống tại khu vực nông thôn và canh tác nông nghiệp, hợp tác xã (HTX) nông nghiệp giữ vai trò thiết yếu trong việc liên kết các hộ nông dân hướng tới sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển chuỗi giá trị nông sản. Kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, CHLB Đức hay Hoa Kỳ cho thấy HTX là công cụ đắc lực hỗ trợ cung ứng vật tư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hình thành chu trình khép kín giữa người sản xuất, HTX và thị trường. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhiều HTX nông nghiệp còn hoạt động rời rạc, hiệu quả liên kết thấp, khiến người nông dân dễ chịu rủi ro rớt giá và bị tư thương ép giá. Do đó, việc củng cố các HTX nông nghiệp bền vững là giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng.

HTX Đông Nam Dược (thôn Khuổi Thiêu, xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn) là một mô hình kinh tế tập thể nông nghiệp đặc thù hoạt động đa ngành, bao gồm: trồng, thu mua, chế biến dược liệu; khám chữa bệnh, bốc thuốc y học cổ truyền; sản xuất cao xương ngựa và kinh doanh dịch vụ tắm thuốc thảo dược. HTX là đơn vị tiên phong tại tỉnh Bắc Kạn trong việc gây trồng các loài dược liệu quý có giá trị kinh tế cao. Dù đạt được những kết quả ban đầu, HTX vẫn đối mặt với nhiều khó khăn: năng lực quản lý của ban chủ nhiệm còn hạn chế, trình độ kỹ thuật canh tác của xã viên chưa đồng đều, khả năng tiếp cận thị trường và hạch toán kinh tế còn yếu, cùng với tình trạng thiếu vốn và mặt bằng sản xuất tập trung. Khóa luận được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng này để tìm ra giải pháp phát triển bền vững cho đơn vị.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của HTX Đông Nam Dược, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động theo hướng ổn định và bền vững. Các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược.
  2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của HTX.
  3. Làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động SXKD của HTX.
  4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của đơn vị trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược, tập trung vào: trồng và chế biến cây dược liệu, sản xuất cao xương ngựa, hoạt động khám chữa bệnh của phòng khám y học cổ truyền, và kinh doanh dịch vụ tắm thuốc thảo dược, đồng thời xem xét các khía cạnh xã hội liên quan. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định tại HTX Đông Nam Dược và các hộ dân có liên quan trên địa bàn xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Phạm vi thời gian sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2017; thời gian triển khai điều tra thực địa từ ngày 26/07/2017 đến ngày 21/12/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về kinh tế tập thể và quản trị sản xuất nông nghiệp. Về mặt khái niệm, tác giả tổng hợp định nghĩa HTX của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA, 1945), Luật Hợp tác xã năm 1996, 2003 và Luật Hợp tác xã năm 2012. Theo Luật HTX năm 2012, HTX nông nghiệp được xác định là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập để tương trợ lẫn nhau trong hoạt động SXKD. Cơ sở lý thuyết cũng làm rõ các khái niệm về cây dược liệu, phát triển dược liệu bền vững, chi phí cố định, chi phí biến đổi, chi phí cơ hội, doanh thu, lợi nhuận và hiệu quả kinh tế. Hệ thống chỉ tiêu kinh tế được sử dụng gồm:

  • Tổng giá trị sản xuất ($GO = \sum Q_i \times P_i$).
  • Chi phí trung gian ($IC$).
  • Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$).
  • Thu nhập hỗn hợp ($MI = VA - (A + T)$, với $A$ là khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ, $T$ là thuế sản xuất).
  • Lợi nhuận ($Pr = GO - TC$).
  • Các chỉ số hiệu quả kinh tế: $H = K / C$, $GO / IC$, $VA / IC$, $MI / IC$, tỷ số thu nhập/chi phí và lợi nhuận/chi phí.

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động phát triển dược liệu được tác giả viện dẫn bao gồm: Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10/01/2014 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược; và Quyết định số 206/QĐ-BYT ngày 22/01/2015 của Bộ Y tế ban hành danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015 - 2020.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai kênh thu thập thông tin:

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Trích xuất các báo cáo tài chính, sổ sách theo dõi SXKD giai đoạn 2015 - 2017 của HTX Đông Nam Dược.
  • Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ quản lý (Ban chủ nhiệm, Trưởng ban kiểm soát), điều tra 12 hộ thành viên HTX và kết hợp quan sát thực địa, phỏng vấn nhanh các nông hộ liên kết trên địa bàn thôn Khuổi Thiêu.
  • Phương pháp xử lý và phân tích: Dữ liệu định tính được phân loại và tổng hợp trực tiếp; dữ liệu định lượng được thống kê, xử lý và so sánh qua các năm bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của mô hình HTX kiểu mới trong tái cơ cấu nông nghiệp và thực tiễn hoạt động của HTX Đông Nam Dược tại Bắc Kạn. Phần này xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung và 4 mục tiêu cụ thể), làm rõ ý nghĩa khoa học trong việc củng cố phương pháp đánh giá kinh tế nông nghiệp và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở dữ liệu cho ban quản trị HTX hoạch định chiến lược sản xuất.

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này hệ thống hóa các quan điểm lý luận về bản chất HTX trong nền kinh tế thị trường, nguyên tắc tự nguyện, tương trợ và vai trò làm cầu nối giữa Nhà nước với nông dân. Phần thực tiễn tổng quan tình hình khai thác, bảo tồn và sử dụng cây thuốc trên thế giới (với các dẫn chứng từ Trung Quốc, Triều Tiên, báo cáo của WHO và WWF) và tại Việt Nam (nghiên cứu của Đỗ Tất Lợi, Lê Trần Đức, Viện Dược liệu, Đỗ Hoàng Sơn, Nguyễn Tập). Tác giả cũng phân tích hệ thống chính sách hiện hành của Nhà nước và chỉ ra thực trạng thiếu hụt văn bản quy phạm đặc thù cho chuỗi giá trị dược liệu.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương quy định cụ thể đối tượng nghiên cứu là 4 mảng hoạt động SXKD của HTX Đông Nam Dược cùng các hộ liên kết. Tác giả thiết lập hệ thống phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, đồng thời xác lập chi tiết công thức toán kinh tế cho từng chỉ tiêu phân tích tài chính ($GO, IC, VA, MI, Pr$) cùng các chỉ số hiệu quả chi phí phục vụ việc đánh giá hoạt động nông nghiệp và dịch vụ.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và so sánh

Chương này tập trung trình bày các dữ liệu thực chứng của HTX Đông Nam Dược qua các nội dung:

  • Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức: Thành lập năm 2012 (mô hình cũ) và chuyển đổi sang mô hình HTX kiểu mới năm 2016 theo Luật HTX 2012, do ông Nguyễn Văn Cư làm Giám đốc, quy mô gồm 12 thành viên chính thức. Bộ máy quản lý gồm Ban quản trị kiêm Ban chủ nhiệm (1 chủ nhiệm, 2 phó chủ nhiệm), Ban kiểm soát (2 người), kế toán và các tổ đội sản xuất.
  • Nguồn lực và tư liệu sản xuất: Đơn vị không có quỹ đất công tập trung mà sử dụng 54,15 ha đất thuộc quyền sử dụng của 12 hộ thành viên (5,85 ha đất lúa màu/vườn hộ; 17,7 ha đất đồi bãi/nương rẫy; 30,6 ha đất dưới tán rừng thưa). Nguồn lao động gồm 18 người thuộc các hộ thành viên, 3 lao động chế biến thường xuyên (trả lương theo 20 ngày công/tháng) và 4 - 11 lao động thời vụ. Nguồn vốn huy động cam kết của các thành viên đạt 540.000.000 đồng nhằm đối ứng dự án trồng dược liệu (tổng vốn đối ứng dự án là 468.000.000 đồng). Cơ sở vật chất gồm 2 máy cày nhỏ, 9 máy bơm nước, 9 máy phay thuốc dùng điện, 5 máy cắt cỏ, 6 bể chứa nước, 2 giàn tưới bán tự động, 5 lò sấy thuốc, 3 kho bảo quản thuốc ($45\text{ m}^2$) và khu chế biến rộng $135\text{ m}^2$.
  • Đánh giá chi tiết 3 mảng hoạt động SXKD giai đoạn 2015 - 2017:
    1. Trồng và chế biến dược liệu: Năm 2015 canh tác 6,0 ha, doanh thu đạt 76.343.000 đồng, lợi nhuận 35.510.000 đồng. Năm 2016 mở rộng lên 6,5 ha, doanh thu 81.455.000 đồng nhưng lợi nhuận giảm còn 29.274.000 đồng do chi phí vật tư, nhân công tăng và việc trồng thử nghiệm một số giống mới (đẳng sâm, hoài sâm, ba kích) chưa đạt năng suất. Năm 2017 diện tích đạt 6,96 ha, doanh thu tăng vọt lên 183.770.000 đồng, chi phí 112.417.000 đồng, khấu hao 3.900.000 đồng, lợi nhuận đạt 67.453.000 đồng nhờ đưa vào thu hoạch 0,86 ha cây Ban lá dính (sản lượng 4,3 tạ, giá bán 300.000 đồng/kg, mang lại 129.000.000 đồng doanh thu).
    2. Phòng khám chuyên khoa, đa khoa y học cổ truyền: Khám, bốc thuốc các nhóm bệnh xương khớp, ngoài da, dạ dày, gan thận, tiểu đường, phụ khoa. Doanh thu tăng trưởng đều qua các năm: 80.047.000 đồng (năm 2015), 92.015.000 đồng (năm 2016) và 140.630.000 đồng (năm 2017). Lợi nhuận tương ứng đạt 37.047.000 đồng, 43.735.000 đồng và 73.730.000 đồng.
    3. Kinh doanh nhà tắm thuốc thảo dược: Phục vụ 980 lượt khách (năm 2015), 1.008 lượt khách (năm 2016) và 1.160 lượt khách (năm 2017) với giá 70.000 đồng/bồn. Đồng thời bán lẻ dược liệu tắm khô với khối lượng tăng từ 61,25 kg (2015) lên 371,13 kg (2017). Doanh thu mảng này tăng từ 73.500.000 đồng (2015) lên 110.890.000 đồng (2017); lợi nhuận tăng từ 34.385.000 đồng lên 56.633.000 đồng.
  • Đánh giá chung và giải pháp: Tác giả chỉ ra các rào cản về vốn, đất đai manh mún và liên kết tiêu thụ, từ đó đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý, đầu tư công nghệ sấy/bảo quản và mở rộng hợp đồng bao tiêu với các viện nghiên cứu, doanh nghiệp dược.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả đạt được về bảo tồn nguồn gen (93 loài cây thuốc, 27 loài quý hiếm), chuyển dịch cơ cấu cây trồng và tạo việc làm tại địa phương. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương hỗ trợ quy hoạch đất đai, tạo điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi và chuyển giao kỹ thuật trồng trọt cho HTX.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp bức tranh tài chính và vận hành của HTX Đông Nam Dược giai đoạn 2015 - 2017 thông qua các chỉ số cụ thể:

Mảng hoạt động Chỉ tiêu tài chính Năm 2015 (1.000 đ) Năm 2016 (1.000 đ) Năm 2017 (1.000 đ) So sánh 2016/2015 (%) So sánh 2017/2016 (%)
Trồng và chế biến dược liệu Doanh thu 76.343 81.455 183.770 106,70 225,61
Chi phí sản xuất 38.733 49.681 112.417 128,27 226,28
Khấu hao thiết bị 2.100 2.500 3.900 119,05 156,00
Lợi nhuận 35.510 29.274 67.453 82,44 230,42
Phòng khám y học cổ truyền Doanh thu 80.047 92.015 140.630 114,95 152,83
Tổng chi phí 41.500 45.680 63.800 110,07 139,67
Lợi nhuận 37.047 43.735 73.730 118,05 168,58
Dịch vụ nhà tắm thuốc Doanh thu 73.500 77.210 110.890 105,05 143,62
Tổng chi phí 37.815 39.340 52.657 104,03 133,85
Lợi nhuận 34.385 36.520 56.633 106,21 155,07

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất bao gồm:

  • Hoàn thiện bộ máy tổ chức theo Luật HTX 2012, nâng cao năng lực lập kế hoạch SXKD và hạch toán kinh tế cho ban giám đốc.
  • Đầu tư mở rộng nhà xưởng chế biến tập trung ($135\text{ m}^2$) và kho bảo quản chuẩn hóa thay thế phương pháp phơi sấy thủ công phụ thuộc thời tiết.
  • Quy hoạch vùng trồng tập trung 54,15 ha dựa trên đất đai của xã viên; tổ chức tập huấn kỹ thuật canh tác cho 18 lao động thành viên và nhân công thời vụ.
  • Tập trung nhân rộng các giống cây có hiệu quả kinh tế vượt trội (như Ban lá dính) và hạn chế diện tích các giống chưa thích nghi.
  • Đẩy mạnh liên kết với Viện Dược liệu, các công ty sản xuất đông dược để ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm đầu ra ổn định.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết đầu tiên về mô hình HTX dược liệu đa ngành tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, phân tích rõ cơ cấu chi phí - lợi nhuận của từng nhánh dịch vụ và cây trồng đặc thù làm căn cứ thực tế cho công tác quản lý địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Thời gian khảo sát thực tế diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ 26/07/2017 đến 21/12/2017), chưa theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng nhiều năm của một số loại cây dược liệu lâu năm (như Ba kích, Đẳng sâm).
  • Số liệu thống kê chủ yếu dựa trên sổ sách theo dõi nội bộ và lời khai của 12 hộ thành viên HTX Đông Nam Dược, chưa mở rộng điều tra so sánh đối chứng với các hộ trồng dược liệu tự do ngoài HTX trên địa bàn toàn huyện Bạch Thông.
  • Hướng nghiên cứu tiếp cần đi sâu vào đánh giá chuỗi giá trị và phân tích thị trường tiêu thụ dược liệu ở quy mô cấp tỉnh và khu vực miền núi phía Bắc.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế trong việc ứng dụng phương pháp đánh giá tài chính HTX nông nghiệp.
  • Cán bộ quản lý HTX, cán bộ khuyến nông tại các tỉnh miền núi nghiên cứu mô hình kết hợp giữa nông nghiệp (trồng dược liệu) với dịch vụ chăm sóc sức khỏe truyền thống (phòng khám, tắm thuốc).
  • Phần phân tích chi tiết dữ liệu đất đai, nguồn vốn đối ứng và bảng tính doanh thu từng loại cây trồng (Ban lá dính, thuốc xương khớp, thuốc dạ dày) tại Chương 4 là phần có giá trị thực tiễn cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

HTX Đông Nam Dược được tổ chức theo mô hình nào và quy mô nhân sự ra sao? HTX thành lập năm 2012 và chuyển đổi sang mô hình HTX kiểu mới theo Luật HTX 2012 vào năm 2016. Đơn vị có 12 thành viên chính thức, do ông Nguyễn Văn Cư làm Giám đốc. Bộ máy quản lý gồm Ban quản trị kiêm Ban chủ nhiệm (1 chủ nhiệm, 2 phó chủ nhiệm), Ban kiểm soát (2 người), kế toán và các tổ sản xuất. Lực lượng lao động trực tiếp gồm 18 người thuộc các hộ thành viên, 3 lao động chế biến thường xuyên và 4 - 11 lao động thời vụ.

Tiềm năng đất đai và nguồn vốn đầu tư của HTX được huy động như thế nào? HTX không có quỹ đất chung mà sử dụng 54,15 ha đất của 12 hộ thành viên, gồm: 5,85 ha đất vườn hộ và đất lúa màu; 17,7 ha đất đồi bãi ven suối, nương rẫy; và 30,6 ha đất dưới tán rừng thưa. Về nguồn vốn, 12 thành viên cam kết đóng góp 540.000.000 đồng nhằm đáp ứng yêu cầu đối ứng 468.000.000 đồng khi tham gia dự án phát triển vùng trồng dược liệu.

Tại sao lợi nhuận mảng trồng dược liệu năm 2016 bị giảm so với năm 2015? Năm 2016, diện tích trồng tăng lên 6,5 ha và doanh thu đạt 81.455.000 đồng (tăng so với 76.343.000 đồng năm 2015), nhưng lợi nhuận giảm từ 35.510.000 đồng xuống 29.274.000 đồng. Nguyên nhân là do chi phí nhân công và phân bón tăng cao, đồng thời HTX đưa vào trồng thử nghiệm một số giống mới như Đẳng sâm, Hoài sâm, Ba kích nhưng chưa đạt hiệu quả kinh tế như kỳ vọng.

Loại cây trồng nào tạo ra doanh thu đột biến cho HTX trong năm 2017? Đó là cây Ban lá dính. Năm 2017, HTX trồng thành công 0,86 ha loài cây này, đạt sản lượng 4,3 tạ với giá bán 300.000 đồng/kg, đóng góp trực tiếp 129.000.000 đồng vào tổng doanh thu 183.770.000 đồng của mảng trồng và chế biến dược liệu.

Mảng dịch vụ tắm thuốc thảo dược hoạt động với quy mô và kết quả ra sao? Dịch vụ duy trì lượng khách ổn định từ 980 lượt (năm 2015) tăng lên 1.160 lượt (năm 2017) với mức giá cố định 70.000 đồng/bồn. Doanh thu dịch vụ (bao gồm tiền tắm và bán dược liệu khô đóng gói) tăng từ 73.500.000 đồng lên 110.890.000 đồng, lợi nhuận ròng tăng từ 34.385.000 đồng lên 56.633.000 đồng trong giai đoạn 2015 - 2017.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Hoài Uyên đã phản ánh chân thực và chi tiết thực trạng tổ chức sản xuất kinh doanh tại HTX Đông Nam Dược giai đoạn 2015 - 2017. Bằng các phương pháp thống kê và phân tích tài chính nông nghiệp, công trình chỉ rõ hiệu quả kinh tế khả quan từ mô hình đa ngành kết hợp giữa trồng trọt dược liệu, chế biến bài thuốc dân gian và cung ứng dịch vụ tắm thuốc. Mặc dù còn hạn chế về hạ tầng công nghệ bảo quản và quy mô thị trường, các giải pháp đề xuất trong khóa luận mang tính ứng dụng thực tiễn cao, hỗ trợ tích cực cho định hướng phát triển kinh tế tập thể tại tỉnh Bắc Kạn.