Chương 1: Cơ sở lý luận thực tiễn về quản lý chat thải rắn. - Chương 2: Thực trạng quản lý chat thải ran tại bãi rác Đá Mai — Thành phó Thái Nguyên. - Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại bãi rác Đà Mai — Thành phố Thái Nguyên. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN THUC TIEN VE QUAN LÝ CHAT THAI RAN 1.
Khai niệm về chat thai và chat thải ran: Theo Luật Bảo vệ Môi Trường 2020, chat thải là vật chat ở thé ran, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Pháp luật môi trường quy định về việc phân loại và xử lý chất thải rắn chia thành 2 nhóm đó là: chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn trong công nghiệp. Khối lượng các chất thải rắn ở các nhà máy và các khu đô thị Việt Nam (bao gồm chat thải công nghiệp, chat thải sinh hoạt, chat thải phá dỡ công trình xây dựng, .) tao ra ngày càng nhiều.
Theo thống kê của Viện chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên — Môi trường) năm 2020: “Hằng năm cả nước thải ra khoảng hon 15 triệu tan chat thải ran, trong đó 80% chất thải sinh hoạt (12 triệu tan) và 20% chat thải công nghiệp (3 triệu tan). 50% chat thai ran ở các đô thị là rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình. Khoảng 70% lượng rác thải đô thị đã được thu gom.” = Chất thải độc hại = Chat thải khác = Chat thải sinh hoạt = Chat thải công nghiệp Hình 1: Cơ cấu thành phần chất thải rắn của Việt Nam “Dự báo đến năm 2022 lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng 55 triệu tấn 1 năm. Trong đó chi có 15 — 20% lượng chất thải rắn được phân loại và tái chế thủ công tại các làng nghề, số còn lại được chôn lấp.
Nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở các khu đô thị lớn. Hiện nay, khoảng 80% chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam. Trong đó, 50% lượng chat thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, 30% còn lại phát sinh ở vùng đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1500 làng nghề tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải công nghiệp”.
Một số phương pháp xử lý chất thải rắn ở Việt Nam và Thế giới: 1. Một số phương pháp xử lý chất thải rắn: 1. Phuong pháp thiêu đốt: Thiêu đốt hiện nay là phương pháp phô biến trên thế giới để xử lý chất thải rắn nói chung, đặc biệt là đối với chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế nói riêng. Xử lý khói thải sinh ra từ quá trình thiêu đốt là một van dé cần đặc biệt quan tâm.
Phụ thuộc vào thành phan khí thải, các phương pháp xử lý phù hợp có thé được áp dụng như phương pháp hoá học (kết tủa, trung hoà, ôxy hoá.), phương pháp hoá lý (hấp thụ, hấp phụ, điện ly), phương pháp cơ học (loc, lăng). Thiêu đốt chất thải răn là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác. Đây là giai đoạn ôxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của ôxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyền hoá thành khí và các thành phần không cháy được. Khí thải sinh ra trong quá trình thiêu đốt được làm sạch thoát ra ngoài môi trường không khí.
Tro xi được chôn lap. Phương pháp thiêu đốt được sử dụng rộng rãi ở một số nước như Nhật Bản, Duc, Thuy Si, Ha Lan, Dan Mach. là những nước có số lượng đất cho các khu thải rác bị hạn chê. Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm bớt tới mức nhỏ nhất chat thải cho khâu xử lý cuối cùng là chôn lấp tro, xỉ.
Mặt khác, năng lượng phát sinh trong quá trình thiêu đốt có thé tận dung cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các nghành công nghiệp cần nhiệt và phát điện. Mỗi lò đốt cần phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thê gây ra. Mặc dù phương pháp xử lý bằng thiêu đốt đòi hỏi chi phí xử lý cao nhưng van thường áp dụng để xử lý rác thải độc hại như rác thải y tế và công nghiệp vì các phương pháp này xử lý tương đối triệt dé chất gây ô nhiễm. Quá trình thiêu đốt rác thải thường được thực hiện trong các lò đốt rác chuyên dụng ở nhiệt độ cao, thường từ 850 đến 1.
Bản chất của quá trình là tiến hành phản ứng cháy, tức phản ứng ôxy hoá rác thải bằng nhiệt và ôxy của không khí. Nhiệt độ phản ứng được duy trì bằng cách bổ sung năng lượng như năng lượng điện hay nhiệt toả ra khi đốt cháy nhiên liệu như gas, dầu diezen. Hiện tại, ở Việt Nam xử lý chất thải rắn nguy hại y tế chủ yếu bằng lò đốt công suất nhỏ được trang bị cho từng bệnh viện. Tuy nhiên, các bệnh viện lớn tuyến trung ương trực thuộc Bộ Y tẾ cÓ công tác thu gom, phân loại, vận chuyền và xử lý chất thải y tế được thực hiện tốt.
Các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, việc xử lý chất thải y tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế từng tỉnh. Số bệnh viện tuyến huyện được trang bị lò đốt đạt tiêu chuẩn rất ít. Vì vậy, chất thải y té thường được đốt bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện. Đối với rác thải nguy hại công nghiệp được xử lý bằng phương pháp đốt thì gần như tuân theo nguyên lý đốt của chất thải y tế nhưng công suất lò lớn hơn.
Hiện tại, các khu công nghiệp có đầu tư khu xử lý chat thải ran nguy hại tập trung không nhiều. Các chất thải rắn nguy hại thường được doanh nghiệp hợp đồng với công ty, đơn vị có chức năng, được cấp giấy phép vận chuyên và xử lý chat thải rắn nguy hại xử lý. Tại Việt Nam, các công ty môi trường đô thị (viết tắt là URENCO) vẫn là những đơn vị hàng đầu trong xử lý chất thải rắn nguy hại. Công ty nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các lò dot chat thải ran công suât lớn đặt tại một sô địa điêm, phục vụ nhu câu xử lý chất thải khu vực xung quanh.
Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh: Trong các phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, chôn lấp là phương pháp phố biến và đơn giản nhất. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới. Về thực chất, chôn lap là phương pháp lưu giữ chat thải trong một khu vực và có phủ đất lên trên. Phương pháp chôn lấp thường áp dụng cho đối tượng chất thải rắn là rác thải đô thị không được sử dụng dé tái chế, tro xi của các lò đốt, chất thải công nghiệp.
Phương pháp chôn lấp cũng thường áp dụng dé chôn lap chat thải nguy hai, chất thải phóng xạ ở các bãi chôn lấp có thiết kế đặc biệt cho rác thải nguy hại. Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân huỷ của các chất rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt. Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học bên trong dé tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4. Tại miền Bắc, bãi chôn lap rác thải Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội) là bãi chôn lấp rác lớn nhất, chịu trách nhiệm xử lý rác cho toàn thành phố Hà Nội.
Mỗi ngày bãi chôn lấp rác Nam Sơn tiếp nhận khoảng 3.000 tấn rác và có thể tăng lên 4.000 tan/ngay trong 2 năm tới. Hiện tại, bãi Nam Sơn đã lap day 6/9 ô chôn lap. Tại thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày có khoảng 6.000 tan rác được đem tới các bãi chôn lap. Tuy nhiên, vì lý do quỹ đất và địa hình nên tại thành phó Hồ Chí Minh có nhiều bãi chôn lấp phục vụ công tác xử lý chất thải rắn của thành phó.
Bãi chôn lắp Gò Cát tại thành phố Hồ Chí Minh đã từng là bãi chôn lắp chính của thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay đã đóng cửa bãi chôn lap vì bãi đã day. Hiện nay, bãi chôn lắp rác Gò Cát tuy đã đóng cửa nhưng hệ thống xử lý nước rác, hệ thống thu hồi khí gas va thiét bi máy phat điện vẫn tiếp tục hoạt động. Ngoài ra, thành phố Hồ Chi Minh có bãi chôn lap Phước Hiệp, thuộc Khu liên hop xử lý chat thải rắn Tây Bac.
Bãi chôn lap này có diện tích trên 22,8 ha, công suất xử lý rác trung bình khoảng 3.000 tân/ngày, được xây dựng với tổng kinh phí trên 197 tỷ đồng. Công nghệ xử lý của bãi rác này là công nghệ chôn lấp rác hợp vệ sinh, nước rỉ rác tại bãi sẽ được thu gom bang hé thong ống nhựa HDPE và dẫn về trạm xử lý nước thải tập trung, sau đó xả vào kênh Thầy Cai. Ngày 16/2/2008, Công ty Môi trường Đô thị thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức đưa vào hoạt động bãi chôn lấp rác số 2 tại Khu liên hiệp xử lý chất thai ran Phước Hiệp — Củ Chi. Đây là bãi chôn lấp rác thay thế cho bãi chôn lap 1A (đã hết khả năng tiếp nhận vào đầu năm 2008) có sức chứa khoảng 4,464 triệu tấn rác, công suất tiếp nhận trung bình 2.000 tan/ngay và tối đa trên 4.000 tan/ngay, thời gian khai thác 5 năm với tổng mức vốn đầu tư trên 350 tỷ đồng (100% vốn do công ty đầu tư).
Bãi chôn lap rác Da Phước thuộc Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Da Phước chủ yếu phục vụ xử lý rác thải khu vực phía nam thành phố Hồ Chí Minh. Tổng diện tích khu liên hợp là 73,64 ha trong đó diện tích đề xây dựng ô chôn rác là 29,7 ha với công suất tiếp nhận 3000 tan/ngay đêm. Dự kiến bãi rác sẽ hoạt động 4 năm rồi đóng cửa.