Đặt vấn đề Xã hội ngày càng phát triển, cùng theo đó là hàng loạt các vấn đề cần giải quyết. Hiện nay, xây dựng nông thôn mới không còn là việc riêng của các nước đang phát triển mà là sự quan tâm của cả cộng đồng thế giới. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì các vấn đề về môi trường ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng ô nhiễm môi trường không chỉ diễn ra ở các nước phát triển mà ở cả các nước đang phát triển trong đó có đất nước Việt Nam. Nước ta là một nước đông dân, với trên 60% lao động nông nghiệp đang sinh sống ở vùng nông thôn.
Nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Thực trạng nông thôn Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, so sánh với thành thị, trình độ văn hóa, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và khả năng tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân nông thôn thấp hơn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, kém hơn cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên nông thôn có tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, đây là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển. Xây dựng, quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên, nhanh chóng thay đổi bộ mặt nông thôn, phát triển nông thôn toàn diện, bền vững là nhiệm vụ cần thiết của nước ta trong giai đoạn mới.
Xây dựng nông thôn mới là bước đầu tiên để tiến tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc n 2 gia, bao gồm 19 tiêu chí về nông thôn mới.
Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Việc bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế cần được quan tâm để đảm bảo chất lượng môi trường sinh thái, điều này được thể hiện ở tiêu chí 17 trong 19 tiêu chí về nông thôn mới. Trong những năm qua, cũng như các tỉnh thành ở Việt Nam, Ninh Bình đã và đang chú trọng việc xây dựng và phát triển nông thôn mới. Cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội, thì các vấn đề quản lý chất thải, sử dụng nước sạch…cần được đảm bảo để không gây ảnh hưởng đến môi trường.
Xuất phát từ vấn đề đó tôi đã chọn xã Khánh Mậu huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình để thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng môi trường nông thôn tại xã Khánh Mậu, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình”. Mục đích - Đánh giá chất lượng môi trường xã Khánh Mậu. - Đánh giá tình hình hiểu biết của người dân về môi trường ở nông thôn. Yêu cầu của đề tài - Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại xã Khánh Mậu, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
- Đánh giá trực trạng về chất lượng môi trường của địa phương, những tồn tại về môi trường cần có giải pháp khắc phục. - Thu thập thông tin về hiểu biết của người dân về môi trường. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá được hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Khánh Mậu, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. - Góp phần nâng cao sự quan tâm của người dân về việc bảo vệ môi trường. - Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nghiên cứu.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm *Môi trƣờng là gì? Theo luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam ngày 23/6/2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Chức năng của môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người.
- Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất. - Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật. - Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. *Ô nhiễm môi trƣờng là gì? Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng dẫn đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”.
Theo luật Bảo vệ môi trường 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. n 5 - Ô nhiễm môi trường đất Là quá trình thoái hóa đất và bị ô nhiễm bởi các hóa chất độc hại khi hàm lượng các chất đó cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường đất chủ yếu là các chất thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp. Trong đó đáng chú ý là các nguồn ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp (dư lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng, phân hóa học,…) và sản xuất công nghiệp (nhà máy, xí nghiệp,…).
- Ô nhiễm môi trường nước. Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Theo Hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại. - Ô nhiễm không khí.
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của những chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho nó không sạch, bụi, có mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn,… có ảnh hưởng đến đời sống của con người và sinh vật. *Quản lý môi trƣờng và phòng chống ô nhiễm Quản lý môi trường là một hoạt động trong quản lý xã hội có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kĩ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên. Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: Luật pháp, chính sách, kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo dục… Các biện n 6 pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra. Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô; toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình… *Suy thoái môi trƣờng Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Nguyên nhân gây suy thoái môi trường rất đa dạng: Sự biến động của tự nhiên theo hướng không có lợi cho con người, sự khai thác tài nguyên quá khả năng phục hồi, do mô hình phát triển chỉ nhằm vào tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số, nghèo đói, bất bình đẳng… *Tiêu chuẩn môi trƣờng Theo Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”. Tiêu chuẩn môi trường là các giá trị được ghi nhận trong các quy định chính thức, xác định nồng độ tối đa cho phép của các chất trong thức ăn, nước uống, không khí; hoặc giới hạn chịu đựng của con người và sinh vật với các yếu tô môi trường xung quanh. Theo nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/07/2009 về quản lý chất thải rắn: - Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt n 7 động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. - Chất thải rắn nguy hại: là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác. - Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng, được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác.
- Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. - Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.