Chương I, Điều 4 quy định dịch vụ giao nhận được phân loại như sau: Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: ‒ Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; ‒ Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; ‒ Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; ‒ Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: ‒ Dịch vụ vận tải hàng hải; ‒ Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa; ‒ Dịch vụ vận tải hàng không; ‒ Dịch vụ vận tải đường sắt; ‒ Dịch vụ vận tải đường bộ; ‒ Dịch vụ vận tải đường ống. Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: ‒ Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; ‒ Dịch vụ bưu chính; ‒ Dịch vụ thương mại bán buôn; 4 ‒ Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; ‒ Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.3 Vai trò của người giao nhận trong vận tải hàng hóa quốc tế Theo PGS.TS Hoàng Văn Châu, “Vận tải – Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu”, xuất bản năm 1999, NXB Khoa học và Kỹ thuật, ở trang 175, 176 mục 3 về Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế đã chỉ ra 5 vai trò của người giao nhận như sau: 1.1 Môi giới hải quan: Trước đây người giao nhận chỉ hoạt động ở phạm vi trong nước. Nhiệm vụ của người giao nhận chủ yếu là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu.
Sau đó người giao nhận mở rộng thêm các dịch vụ nhằm phục vụ cho cả hàng xuất khẩu bao gồm khai báo hải quan, thủ tục cấp C/O,… Trên cơ sở pháp luật của mỗi quốc gia, dưới sự ủy thác của người xuất khẩu hoặc nhập khẩu, người giao nhận có thể thay mặt họ để khai báo và làm thủ tục hải quan cho lô hàng.2 Đại lý (Agent): Trước đây người giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở mà chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như là một đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng. Người giao nhận nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho,… trên cơ sở hợp đồng ủy thác.3 Người gom hàng (Cargo Consolidator): Ở Châu Âu, người giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hóa bằng container dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên (FCL) để tận dụng sức chở của container và giảm cước phí vận tải. Khi là người gom hàng người giao nhận có thể đóng vai trò là người chuyên chở hoặc chỉ là đại lý.4 Người chuyên chở (Carrier): 5 Ngày nay trong nhiều trường hợp người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu mọi trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở (Contracting Carrier) nếu anh ta ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở. Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người chuyên chở thực tế (Performing Carrier).5 Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO): Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn gọi là vận tải từ cửa đến cửa thì người giao nhận đã đóng vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) cũng là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa. Người giao nhận còn được coi là “kiến trúc sư của vận tải” (Architect of Transport) vì người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất.4 Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận trong hoạt động vận tải hàng hóa 1.1 Quyền hạn và nghĩa vụ của người giao nhận trong hoạt động vận tải hàng hóa: Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2015, Mục 4, Điều 235 quy định về quyền và nghĩa vụ của người giao nhận như sau: ‒ Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản chi phí hợp lý khác. ‒ Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
‒ Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn. ‒ Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý. 6 ‒ Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải. Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2015, Mục 4, Điều 238 quy định về giới hạn trách nhiệm của người giao nhận như sau: ‒ Trừ trường hợp có thoả thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ giao không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá.
‒ Chính phủ quy định chi tiết giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ giao phù hợp với các quy định của pháp luật và tập quán quốc tế. ‒ Thương nhân kinh doanh dịch vụ giao nhận không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ giao nhận cố ý hành động hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng, chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạo hiểm và biết rằng sự mất mát, hư hỏng, chậm trễ đó chắc chắn xảy ra.2 Trách nhiệm của người giao nhận trong hoạt động vận tải hàng hóa: a. Khi người giao nhận là đại lý: Phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và chịu trách nhiệm trước khách hàng về những sơ suất, lỗi lầm của mình hoặc người làm công cho mình như: ‒ Giao hàng sai chỉ dẫn. ‒ Gửi sai địa chỉ.
‒ Lập chứng từ sai. ‒ Làm sai thủ tục hải quan. ‒ Thiếu sót trong mua bảo hiểm hàng hóa… Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những lỗi lầm của bên thứ 3 (nhà vận tải, nhà thầu vận chuyển phụ,…), miễn là người giao nhận đã mẫn cán trong công việc. Khi người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở: 7 Phải chịu trách nhiệm về hành vi và lỗi lầm của bên thứ ba (người chuyên chở hoặc người giao nhận khác được thuê để thực hiện hợp đồng) như thể là hành vi thiếu sót của mình.
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng của hàng hóa trong những trường hợp sau: ‒ Do lỗi của khách hàng hoặc bên được khách hàng ủy thác. ‒ Do nội tỳ của hàng hóa. ‒ Khách hàng ghi ký mã hiệu cho hàng hóa sai, ‒ Các trường hợp bất khả kháng. Ngoài ra, người giao nhận không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ hoặc sai địa chỉ giao hàng mà không phải lỗi của mình.4 Các tổ chức giao nhận trên Thế giới và ở Việt Nam Trên thế giới: Tổ chức giao nhận vận tải có ảnh hưởng rất quan trọng tới sự phát triển ngành giao thông vận tải thế giới là Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận vận tải (International Federation of Freight Forwarders Associations – FIATA) thành lập năm 1926.
Đây là tổ chức đại diện của 35.000 công ty giao nhận ở 130 nước trên thế giới. Tổ chức này được các tổ chức của Liên hiệp quốc công nhận rộng rãi. Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (International Air Transport Association – IATA), là một tổ chức tự nguyện phi chính trị của các hãng hàng không có danh sách đăng kí ở những nước thành viên của ICAO và một số thành viên khác. Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (International Civil Aviation Organization – ICAO) là một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm soạn thảo và đưa ra các quy định về hàng không trên toàn thế giới.
Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce – ICC) là tổ chức kinh doanh đại diện lớn nhất, tiêu biểu nhất thế giới. Hàng trăm nghìn công ty thành viên của nó ở hơn 130 quốc gia có lợi ích trải rộng khắp mọi lĩnh vực của doanh nghiệp tư nhân. Tại Việt Nam: 8 Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (Vietnam Logistics Business Association – VLA) tiền thân là Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (Vietnam Freight Forwarders Association – VFFA), thành lập vào ngày 18/11/1993.5 Khái quát về quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển Trong giáo trình “Đại lý tàu biển và Giao nhận hàng hóa”, TS.Lê Phúc Hòa (2013), NXB Giao thông vận tải, tại trang 66 – 68, mục 4.1 Trình tự giao nhận đối với hàng xuất khẩu như sau: Hàng hóa không phải lưu kho tại bãi của cảng: Đây là hàng hóa xuất khẩu do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các cơ sở sản xuất trong nước đến để xuất khẩu không qua kho bãi của cảng. Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua cảng.
‒ Đưa hàng đến cảng; do các chủ hàng hoặc người giao nhận tiến hành. ‒ Làm các thủ tục xuất khẩu giao hàng cho tàu ‒ Đăng ký với cảng về máng, địa điểm, cầu tàu xếp dỡ. ‒ Tổ chức vận chuyển, xếp dỡ hàng lên tàu. ‒ Liên hệ với thuyền trưởng để lấy sơ đồ xếp hàng.
‒ Tiến hành xếp hàng lên tàu do công nhân cảng tiến hành, nhân viên giao nhận phải theo dõi quá trình xếp dỡ để giải quyết các vấn đề xảy ra và ghi vào phiếu kiểm đếm (Tally sheet).