Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở khoa học về phát triển rừng 1. Khái niệm về phát triển rừng, phát triển kinh tế rừng Phát triển rừng: Là việc trồng rừng mới, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năngcung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng Phát triển kinh tế rừng: Là sự chuyển biến của hiện trạng kinh tế từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn.
Xuất phát từ đặc điểm sản xuất của rừng, đối tượng sản xuất là sinh vật, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể thay thếđược, thì có thể hiểu: Phát triển kinh tế rừng là dựa vào chuỗi giá trị của tái nguyên rừng, đất lâm nghiệp mà thông qua đó làm tăng khối lượng sản phẩm và dịch vụ từ ngành lâm nghiệp cho nền kinh tế, gia tăng mức độ đóng góp về giá trị sản xuất, làm thay đổi tình trạng kinh tế, xã hội và ổn định môi trường trích dẫn theo [Trần Công Quân (2017), Giáo trình nội bộ Kinh tế rừng, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên]. b) Nội dung và tiêu chí về phát triển rừng * Phát triển về quy mô sản xuất Phát triển về quy mô là tăng diện tích tạo rừng, khoah nuôi phục hồi rừng, tăng trữ lượng gỗ cây đứng, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu lâm sản và dịch vụ cho xã hội, thể hiện vị trí vai trò của rừng đối với việc giải quyết những mục tiêu quan trọng của nền kinh tế. Nó gắng liền với việc tăng trưởng, tạo việc làm nhằm sử dụng nguồn lực để xây dựng tài nguyên rừng hiệu quả. Tiêu chí đánh giá - Tăng diện tích rừng, nâng cao độ che phủ của rừng, - Gia tăng khối lượng sản phẩm, dịch vụ từ rừng, 13 - Gia tăng giá trị sản xuất của rừng.
* Phát triển về năng cao hiệu quả kinh tế của rừng Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh rừng nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh rừng là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh rừng của các chủ rừng - mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng dựa trên phương pháp tài chính, người ta sử dụng năm thước đo cơ bản: + Tỷ suất lợi nhuận + Bảo toàn và phát triển vốn + Tình hình tài chính lành mạnh + Đóng góp cho ngân sách nhà nước + Cải thiện thu nhập cho người lao động - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh tế rừngtrồng, nhưng trong luận văn này chỉ xin giới thiệu 4 chỉ tiêu thường dùng cho các hoạt động lâu dài mới có kết quả, như cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp v.v…:Giá trị lãi ròng quy về hiện tại (NPV- net present value); Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR); Tỉ lệ thu nhập trên chi phí của vốn đầutư trồng rừng: BCR (B/C); Giá trị lợi nhuận ròng trên 01 ha/01năm (NPV/ha/năm). - Các tiêu chí đánh giá: + Đóng góp về kinh tế. + Đóng góp vào giải quyết các vấn đề xã hội.
+ Đóng góp vào ổn định về môi trường. Khoanh nuôi tái sinh rừng a) Khái niệm về khoanh nuôi tái sinh rừng Khoanh nuôi tái sinh rừng là quá trình lợi dụng triệt để khả năng tái sinh tự nhiên với sự can thiệp hợp lý của con người nhằm thúc đẩy quá trình tái tạo thông 14 qua các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bảo đảm sự tồn tại của rừng và có xu hướng mở rộng diện tích rừng, cung cấp nguồn gỗ ổn định, giảm giá thành đầu tư cho trồng rừng và phát huy chức năng phòng hộ. Đây là một giải pháp quan trọng nhằm phục hồi rừng trên những diện tích có rừng và diện tích đất rừng sau khai thác với các phương thức khoanh nuôi tái sinh rừng khác nhau, đó là khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh rừng phối hợp và xúc tiến khoanh nuôi tái sinh rừng. Khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên để hình thành thế hệ mới bằng con đường tự nhiên với quá trình tự tái sinh của rừng diễn ra ở rừng tự nhiên mà không có sự can thiệp của các nhà lâm học và quá trình tái sinh rừng xảy ra dưới sự ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh với những nội dung cơ bản đó là, tuyên truyền và tổ chức việc bảo vệ rừng khỏi sự phá hoại của con người, gia súc, gia cầm như: xây dựng chòi canh, biển báo, đường băng cản lửa, hàng rào ngăn chặn nạn chăn thả hoang dã và phá rừng.
Sau khi rừng tái sinh phục hồi khép tán thì chuyển sang giải pháp nuôi dưỡng rừng. Xúc tiến khoanh nuôi tái sinh tự nhiên với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm giảm nguồn vốn chi phí đầu tư, công lao động mà thu được kết quả và chất lượng từ rừng. Nhưng cần lưu ý đó là, phải nuôi dưỡng, bảo vệ mầm chồi, chăm sóc, phòng chống sâu bệnh … nhằm cải thiện điều kiện tái sinh của cây rừng, súc tiến tái sinh rừng nghèo để nâng cao chất lượng cây rừng. b) Nội dung xúc tiến tái sinh rừng Để phục hồi rừng việc đầu tiên phải phân loại, lựa chọn đối tượng rừng, đất rừng và chọn loài cây trồng bổ sung để tiến hành khoanh nuôi tái sinh rừng; khảo sát thiết kế chi tiết đến từng lô, lựa chọn các biện pháp lâm sinh cho từng đối tượng khoanh nuôi nhằm đảm bảo quá trình tái sinh rừng tự nhiên.
Chọn loại cây có năng suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương và kỹ thuật làm giầu cho rừng. Ngoài những cây tái sinh có giá trị, cần trồng thêm cây và chăm sóc cây trồng, xử lý băng chừa bằng cách phát dây leo, cây bụi, cây cong queo, sâu bệnh, cây phi mục đích, đảm bảo tán che hợp lý để cây không bị chèn ép và phát triển tốt. Cần phối hợp quá trình hình thành thế hệ 15 mới của rừng bằng cách phối hợp giữa tái sinh tự nhiên với tái sinh nhân tạo trên cùng một khoảng rừng. Theo nguồn gốc tái sinh thì người ta phân biệt tái sinh hạt, cây con hình thành từ nguồn hạt và phát triển thành rừng.
Sau khai thác sẽ tái sinh chồi, cây con phát sinh từ các chồi sẵn có trên gốc cây mẹ, trên rễ, trên thân, trên cành và hình thành rừng chồi, cả 2 hình thức tái sinh rừng này có thể đồng thời cùng xảy ra trên một khoảng rừng. Khi nghiên cứu tái sinh rừng, các nhà lâm sinh học đã xác định thành phần loài cây và đặc điểm của các thế hệ cây mầm, cây mẹ, cây con, thành phần cây hạt và chồi tương quan số lượng và chất lượng. Cơ sở thực tiễn của huyện Bảo Yên cho việc phát triển rừng Cơ sở thực tế của việc nghiên cứu phát triển rừng, cụ thể như sau: - Nhà nước khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng và chế biến lâm sản theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. - Rừng sản xuất là rừng đa mục tiêu, trồng rừng sản xuất nhằm tăng thu nhập cho người làm nghề rừng và góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái.
- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn (sau đây gọi là cộng đồng), đầu tư và hưởng lợi trực tiếp từ việc trồng rừng, khai thác và chế biến gỗ, lâm sản; Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí ban đầu nhằm khuyến khích phát triển rừng, đồng thời để chi trả một phần giá trị môi trường do rừng trồng mang lại và bù đắp lợi nhuận thấp do tính đặc thù của nghề rừng. - Phát triển rừng sản xuất phải gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm lâm sản, đảm bảo nghề rừng ổn định, bền vững. - Ưu tiên hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng sản xuất, tạo động lực thúc đẩy phát triển lâm nghiệp tại các xã đặc biệt khó khăn. Trong đó đặc biệt ưu tiên hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất, chế biến gỗ ở địa phương.
Những nghiên cứu phục hồi rừng trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình phát triển và phục hồi rừng trên Thế giới Trước khi tìm hiểu thế nào là phục hồi rừng chúng ta cần hiểu rõ về quá trình suy thoái rừng. Sự suy thoái rừng được hiểu một cách khái quát: là quá trình dẫn Sự 16 suy thoái rừng có thể xẩy ra ở nhiều hình thức và được biểu hiện ở nhiều qui mô khác nhau. Sự suy thoái xẩy ra khi các sự kiện phi tự nhiên gây ra những xáo trộn trong các quá trình tự nhiên làm tổn hại đến sự cân bằng sinh thái.
Một số tác giả quan niệm suy thoái rừng chỉ bao gồm sự giảm sút hoặc suy yếu khả năng sản xuất gỗ của một diện tích rừng do ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, đặc biệt là các hoạt động của con người; sự giảm bớt về diện tích không thuộc khái niệm suy thoái rừng (Serna,1986). Một số khác quan niệm suy thoái rừng bao gồm cả sự chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và sử dụng rừng theo kiểu bóc lột, dù cho nó thoả mãn các lợi ích kinh tế và xã hội (Wil de Jong, Đỗ Đình Sâm, Triệu Văn Hùng, 2006). Grainger (1988) đã đưa ra khái niệm suy thoái thảm thực vật bằng cách định nghĩa đó là một sự giảm sút tạm thời hoặc vĩnh viễn về mật độ, cấu trúc, tổ thành loài hoặc năng suất của thảm thực vật. Sự suy thoái có thể là kết quả của các hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến thảm thực vật (như khai thác, đốt cháy rừng, gió bão) hoặc các thành phần trong hệ sinh thái rừng nhưng không ảnh hưởng trực tiếp đến rừng (như nước, tính chất đất và không khí).
Trong môi trường nhiệt đới, suy thoái rừng ở qui mô lớn và cường độ cao là hiện tượng thường xẩy ra do sự bùng nổ về dân số và nhu cầu ngày càng cao về các sản phẩm gỗ nhiệt đới trong quá trình phát triển của các quốc gia.