chương 1, tác giả đã nêu lên lý do chọn đề tài dựa trên tính chất khó đo lường, dễ bị gian lận cũng như các thủ tục kiểm toán ước tính kế toán không rõ ràng, chi tiết và hiệu quả cũng sẽ dễ dẫn đến việc không đánh giá được tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu ước tính kế toán trên BCTC. Đồng thời, chương này cũng đề cập đến phương pháp nghiên cứu định tính để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. xiii CHƯƠNG 2. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Nghiên cứu nước ngoài Arianna Pinello và Ara Volkan (2020) đã nghiên cứu về đề tài “The relationship between critical accounting estimates and critical audit matters”. Bài Nghiên cứu về mối quan hệ giữa CAMs được ban hành bởi PCAOB và xác định bởi KTV và CAEs được xác định bởi Ban quản lý, dựa vào việc tổng hợp, phân tích các chuẩn mực, các nghiên cứu trước, và hồ sơ của 30 công ty lớn nhất Hoa Kỳ, tác giả đã đưa ra mười khoản mục ước tính kế toán bao gồm TSCĐ HH, Thuế TN, Dự phòng, định giá HTK, … là những nhân tố quan trọng được đánh giá có khả năng cao là ước tính kế toán quan trọng CAEs và có thể được báo cáo dưới dạng CAMs. Qua đó, có thể thấy được tầm quan trọng của các ước tính kế toán quan trọng trong lập và trình bày báo cáo tài chính, đồng thời nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò của KTV trong việc lựa chọn và báo cáo về CAMs. Cuối cùng, tác giả đưa ra giải pháp và đề xuất cho các nghiên cứu trong tương lai.
Theo tác giả Ririn Nur Fadila và Diah Hari Suryaningrum (2023) nghiên cứu về đề tài “Fixed Assets Account Audit Procedures as the YG Community Health Center” đã nghiên cứu về quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ và chi phí khấu hao TSCĐ. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính là thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích mô tả, bài nghiên cứu đã xác định được các thủ tục và kết quả kiểm toán khoản mục TSCĐ và khấu hao TSCĐ. Kết quả nghiên cứu cho thấy có một số sai sót trong thủ tục tính toán khấu hao TSCĐ cũng như phân loại và sắp xếp tài khoản. Từ đó, tác giả khuyến nghị phân loại lại TSCĐ và tài sản khác để có thể có phương pháp trích lập khấu hao TSCĐ một cách hợp lí.
Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lê Thanh (2017) về “Kiểm toán ước tính kế toán trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp do các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam thực hiện”. Luận án tiến sĩ kinh tế này của tác giả đã tổng quan, phân tích các nghiên cứu trước ở Việt Nam và nước ngoài cũng như sử dụng phương pháp nghiên cứu phỏng vấn KTV để chỉ ra các đặc điểm, tính chất của và xiv thủ tục kiểm toán ước tính kế toán được áp dụng trong thực tế. Từ đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy trình kiểm toán ước tính kế toán bao gồm: hoàn thiện hệ thống pháp lý về kiểm toán, xây dựng chương trình kiểm toán riêng cho ước tính kế toán, tăng cường thực hiện thử nghiệm kiểm soát và thủ tục phân tích cho ước tính kế toán, tăng cường phối hợp với các KTV nội bộ và sử dụng chuyên gia để có thông tin độc lập và đáng tin cậy để đánh giá các ước tính kế toán, tăng cường KSNB trong suốt quá trình kiểm toán. Theo tác giả Giáp Đăng Kha viết về đề tài: “Ảnh hưởng của ước tính kế toán tài sản cố định hữu hình đến báo cáo tài chính doanh nghiệp” đã nói về vấn đề ước tính kế toán về thời gian sử dụng hữu ích TSCĐ có ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Tác giả đã xác định IFRS là một khuôn khổ ước tính kể toán và cũng sử dụng IFRS như một cơ sở lý thuyết để thực hiện phân tích thực nghiệm Bảng CĐKT và BCKQKD về ảnh hưởng của ước tính kế toán TSCĐ HH. Với phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã tổng hợp và xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến số ước lượng thời gian sử dụng hữu ích thiết bị. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh có thể phụ thuộc rất nhiều vào các ước tính thời gian sử dụng hữu ích TSCĐ. Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của các ước tính kế toán đối với tình hình tài chính công ty.
Trong bài nghiên cứu “Kiểm toán các ước tính kế toán trong kiểm toán báo cáo tài chính giai đoạn hiện nay” của TS. Đường Thị Quỳnh Liên và Th.S Trương Thị Hoài đã khẳng định bản chất của ước tính kế toán là các khoản mục khó có thể xác định chính xác mà chỉ chỉ có thể ước tính. Dựa trên cơ sở lý luận theo IAS 18 “Chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán và sai sót”, VAS 29 và IAS 8 về ghi nhận và đo lường, tác giả thực hiện phân loại các ước tính kế toán cũng như xác định được các phương pháp ước t ính, giả định được sử dụng trong ước tính kế toán, dữ liệu quá khứ được sử dụng. Từ đó tác giả xác định nhiệm vụ chủ yếu của KTV trong việc kiểm toán các ước tính kế toán và nêu lên một số lưu ý khi kiểm toán các khoản mục này.
Khe hổng nghiên cứu Các nghiên cứu trên chỉ tập trung phân tích cơ sở lý thuyết dựa trên các chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam cũng như quốc tế để đưa ra tính chất quan trọng của ước tính kế toán và các thủ tục kiểm toán ước tính kế toán cần được áp dụng cho từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên không tập trung chủ yếu đến các thủ tục kiểm toán ước tính kế toán một cách chặc chẽ cũng như không đưa ra quy trình kiểm toán chi tiết ước tính kế toán. Do đó, tác giả thực hiện đề tài “Đánh giá chất lượng các thủ tục kiểm toán ước tính kế toán: nghiên cứu tại công ty TNHH KPMG Việt Nam” nhằm đưa ra cái nhìn chi tiết và sâu sắc hơn về các thủ tục kiểm toán các ước tính kế toán trong từng trường hợp cụ thể cũng như đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các thủ tục kiểm toán trong từng trường hợp cụ thể đó. 16 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Chương 2 của bài nghiên cứu đã tổng quan các nghiên cứu trước, bao gồm những bài nghiên cứu trong nước và những nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến các khoản mục ước tính kế toán, đồng thời trong chương này tác giả cũng đề cập đến khe hổng kiến thức của những đề tài nghiên cứu trước để có thể vừa kế thừa những kiến thức quan trọng và cần thiết để phát triển bài nghiên cứu cũng giải quyết những mặt hạn chế trong những bài nghiên cứu trước đó.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Tổng quan ước tính kế toán trong lập và trình bày báo cáo tài chính. Khái niệm Khái niệm ước tính kế toán Ước tính kế toán có thể được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau. Theo VSA 540 - ước tính kế toán được định nghĩa như sau: “Ước tính kế toán là: Là một giá trị tiền tệ gần đúng trong trường hợp không có phương pháp đo lường chính xác”.
Khái niệm giá trị ước tính của KTV Giá trị ước tính hoặc giá trị ước tính của KTV: “Là giá trị hoặc khoảng giá trị mà kiểm toán ước tính được dựa trên các bằng chứng kiểm toán để sử dụng trong việc đánh giá giá trị ước tính của Ban giám đốc đơn vị được kiểm toán. Phân loại Theo tác giả Đường Thị Quỳnh Liên và Trường Thị Hoài (2022): “Có rất nhiều cách phân loại ước tính kế toán, có thể phân loại các ước tính kế toán gắn với từng tiêu thức khác nhau”. Cụ thể có ba tiêu thức dùng để phân loại ước tính kế toán bao gồm: phân loại theo nội dung kinh tế, theo các khoản mục trên BCTC và theo thời gian phát sinh. Theo đó, việc phân loại ước tính kế toán theo thời gian phát sinh giúp nhận biết giá trị gần đúng của các chỉ tiêu nào đã phát sinh và chỉ tiêu nào chưa phát sinh được lập trên BCTC: - Ước tính kế toán liên quan đến các chỉ tiêu đã phát sinh như dự phòng giảm giá HTK, dự phòng nợ phải thu khó đòi, chi phí khấu hao TSCĐ, phân bổ chi phí trả trước ,… là những giá trị gần đúng đã thực sự phát sinh và được lập trên BCTC nhưng số liệu có thể chưa hoàn toàn chính xác và phương pháp ước tính chưa thực 18 sự phù hợp.
- Ước tính kế toán liên quan đến các chỉ tiêu chưa phát sinh như chi phí trích trước, dự phòng tái cơ cấu doanh nghiệp là những chỉ tiêu chưa thực sự phát sinh nhưng được doanh nghiệp ước tính trước để lập BCTC. Nội dung của các ước tính kế toán 3. Dự phòng nợ phải thu khó đòi Định nghĩa: Theo Điều 2, thông tư 48/2019/TT-BTC quy định: “Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị tổn thất của các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán và khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng có khả năng không thu hồi được đúng hạn”. Điều kiện xác định đối tượng để lập dự phòng phải thu khó đòi Để xác minh các khoản nợ đã quá hạn hoặc chưa đến hạn nhưng có khả năng không trả cho doanh nghiệp đúng hạn, cần có những bằng chứng gốc như: - Hợp đồng kinh tế, Khế ước vay nợ, Cam kết nợ; - Bản thanh lý hợp đồng (nếu có); - Biên bản đối chiếu công nợ: Nếu không có biên bản đối chiếu công nợ, thì doanh nghiệp phải có văn bản đề nghị đối chiếu xác nhận công nợ hoặc văn bản đòi nợ do doanh nghiệp gửi cho đối tượng nợ(có dấu bưu điện hoặc xác nhận của đơn vị chuyển phát); - Bảng kê công nợ; - Các chứng từ khác có liên quan (nếu có).
Cơ sở xác định là nợ phải thu khó đòi: - Trường hợp đối tượng nợ đã nợ quá hạn trên 6 tháng và doanh nghiệp đã gửi văn bản thu hồi nợ hoặc đốc thúc thanh toán nhiều lần những khách hàng vẫn không có dấu hiệu thanh toán nợ.