MỞ ĐẦU TÍNH CAP THIET CUA DE TÀI Thành phố Hỗ Chí Minh nằm ở hạ lưu hệ thong sông Sài Gòn-Đồng Nai.HCM là một trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học lớn nhất nước với dân số cũng đông nhất nước với 8. Thành phố có diện tích tự nhiên là 2. Khu vực nội thành (với 11 quận đã đô thị hoá hoàn toàn) chỉ chiếm 106. Dự kiến đến năm 2020 Thành phố sẽ mở rộng diện tích đô thị hóa lên 650 km”, chiếm 31% tông diện tích tự nhiên, với tông dân sô 10 triệu người.
Ngập lụt từ lâu đã là vẫn đề nóng của TP. Với sự dau tư lớn của thành phố tinh trang ngập lụt TP.HCM đang dan được cải thiện. Theo số liệu thống kê của Trung tâm điều hành chống ngập TP.HCM số lượng điểm ngập lụt thay đôi hàng năm từ 128 điểm (năm 2011) xuống còn 23 điểm (năm 2015). Nhưng năm 2016, số lượng điểm ngập tăng lên đến 59 điểm với chiều sâu ngập từ 0.50 m; diện tích ngập từ 100 m? đến 30 000 m2.
Với tình trạng ngập lụt đó, thiệt hại về kinh tế-xã hội và môi trường do ngập lụt đô thị có nguy cơ sẽ ngày cảng trở nên ngiêm trọng hơn và cần có các đánh giá thiệt hài toàn diện và đây đủ, giúp hỗ trợ ra quyết định đầu tư các công trình chồng ngập tại những khu vực thiệt hại nhiều. Do đó, dé tài “Đánh giá rủi ro ngập lụt của Thành phố Hỗ Chí Minh” được thực hiện nhăm đánh giá thiệt hại do ngập lụt trên địa bàn TP. Bên cạnh đó đề tài cũng đề xuất những giải pháp khắc phục dựa trên kết quả tính toán thiệt hại do ngập, qua đó sẽ giảm thiểu các thiệt hại cho người dan, cơ sở hạ tang,. MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đánh giá thiệt hại hàng năm do ngập lụt của TP.HCM NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nội dung của đề tài gồm 2 nội dung chính: Nội dung 1: Ứng dụng mô hình F28 và xây dựng bản đồ ngập lụt của TP.HCM Nội dung 2: Đánh giá thiệt hai do ngập lụt tại TP.HCM PHAM VI NGHIÊN CỨU Pham vi của dé tài là khu vực nội thành TP.HCM (giới han từ phía Bac kênh Tham Lương và phía Nam kênh Đôi — kênh Tẻ) với tong diện tích 157.56 km? TÍNH MỚI VÀ Y NGHĨA KHOA HỌC, THUC TIEN Ý nghĩa khoa học Các đánh giá rủi ro ngập lụt cho thay góc nhìn rộng hơn về nguyên nhân.
thiệt hại và công tác ứng phó. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu là tiền đê cho những đề xuất giải pháp kiếm soát ngập lụt bên vững cho thành phố cũng như tiễn độ đầu tư b6 sung các giải pháp giảm nhẹ rủi ro ngập lụt trong tương lai nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư. Tính mới của đề tài Đánh giá nguy cơ ngập lụt theo quan niệm hiện đại không chỉ là các thông số ngập lut: diện tích ngập, độ sâu ngập. vận tốc dòng chảy,.
mà còn bao hàm những thiệt hại tiềm tàng có thé gay ra do ngap lut va kha nang phuc hồi sau ngap lut. TONG QUAN DIEU KIỆN TỰ NHIÊN TP. Dac điểm điều kiện tự nhiên I. Vi trí địa lý Thành phố Hỗ Chí Minh có tọa độ 10°10' — 10°38' Bắc và 106°22'— 106°54' Đông, phía Bac giáp tinh Bình Duong, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đông Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hỗ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh có bốn điểm cực: - _ Cực Bac là xã Phú Mỹ Hung, huyện Củ Chi. - Cuc Tây là xã Thai Mỹ, huyện Cu Chi. - Cuc Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ.
- Cue Đông là xã Thạnh An, huyện Can Giờ. BÌNH DƯƠNG DONG NAI Hình 1.1-Sod vitr cua TP. Đặc điểm địa hình TP.HCM năm trên vùng hạ lưu của lưu vực sông Đồng Nai. Đây là vùng chuyền tiếp từ vùng gò đồi Đông Nam Bộ.
Cao độ địa hình biến thiên từ cao trình +30 m (vùng phía Bắc quận Thủ Đức) đến +0.5 m (phía Nam quận 7, huyện Nhà Bè) và xuống dưới +0. Độ dốc địa hình thấp dần từ Bắc-Đông Bắc đến Tây-Tây Nam. Địa hình TP.HCM có thể phân chia thành 3 dạng sau: Dang địa hình gò đôi kiểu bát úp với cao độ biến đối chủ yếu từ 2. Dạng địa hình này tập trung ở quận Thủ Đức, quận 9, các quận nội thành, quận 12, huyện Hóc Môn, Củ Chi và Bình Tân.
Đây là vùng đất cao, không chịu ảnh hưởng thủy triều trừ một ít diện tích cục bộ năm ven kênh rạch với cao trình <+1. Dang địa hình đồng băng thấp, với cao độ biến đổi từ 0.5 m phân bố ở quận 2, quận 9, quận 7, Bình Chánh, Tan Phú, Nhà Be, ven sông Sai Gòn. Day là vùng đồng bằng ngập triều hoặc ngập do ảnh hưởng thủy triều (trừ các dải đất có dân cư với cao độ địa hình đến +3. Dang địa hình thấp tring, với mặt đất lỗi lõm, biến động (Cần Giờ, Nam Nhà Bè).
Đây là khu vực gan biến, có cao trình thay đổi từ 0.5 m, thậm chí dưới 0. Nhìn chung, nếu xem các diện tích đất đai thấp hơn cao trình 2.0 m đều có thé chịu anh hưởng thuỷ triều, thì TP.HCM nam trong tam ảnh hưởng dao động của triéu. Đặc điểm khí hậu Nam trong vùng nhiệt đới gid mùa cận xích đạo, TP.HCM có nhiệt độ cao đều trong năm va hai mùa mưa — khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt dau từ tháng 5 tới thang 11, còn mùa khô tu tháng 12 tới tháng 4 năm sau.
Trung bình, TP.HCM có 160 tới 270 giờ năng một tháng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13. thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1 949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2/718 mm, thấp nhất xuống 1 392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9.
Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam — Đông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.HCM chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây — Tây Nam và Bắc — Đông Bắc. Gió Tây — Tây Nam từ An Độ Duong, tốc độ trung bình 3. Gió Gió Bắc — Đông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2.4 m/s, vào mùa khô.
Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam — Đông Nam vào khoảng thang 3 tới tháng 5, trung bình 3.HCM thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ âm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và xuống thấp vào mùa không, 74. Trung bình, độ 4m không khí đạt bình quân/năm 79.1 - Một s chỉ tiêu trung bình vé kh hậu của TP.HCM Nhiệt độ (°C) Số giờ năng Lượng mưa (mm) Tháng 2005 2010 2005 2010 2005 2010 Cả năm 28.3 Ngu n: Cục Th ng kê TP. Dac diém dia chat Dia chat TP.HCM bao gồm chủ yếu là hai dang tram tích Pleistocen va Holocen lộ ra trên bê mat.
Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phó. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cỗ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng: đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23.4 % diện tích thành phố, đất xám ở TP.HCM có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang 16 đỏ vàng và hiểm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở TP.HCM có nhiều nguồn sốc: biến, vũng vịnh, sông biến, bãi bồi.
hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40 800 ha và đất phèn mặn với 45 500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biến và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đôi gò. Đặc điểm thủy van Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thong song Đồng Nai - Sài Gòn, TP.HCM có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45 000 km2.
Với lưu lượng bình quân 20-500 m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m? nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phô. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hon Quản, chảy qua Thủ Dau Một đến TP.HCM, với chiều dai 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố đài 80 km. Sông Sai Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m?/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới 20 m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đông Nai va Sai Gòn nỗi thông ở phân nội thành mở rộng.
Một con sông nữa của TP.HCM là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gon, chảy ra biên Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Ganh Rai. Trong đó, nga Ganh Rai chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, TP.HCMcon có một hệ thong kénh rach chang chit: Lang The, Bau Nong, rach Tra, Bén Cat, An Ha, Tham Luong, Cau Bong, Nhiéu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tau Hũ, Kênh Đôi.Hệ thống sông, kênh rạch giúp TP.HCMtrong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Đông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xâu tới sản xuât nông nghiệp và hạn chê việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc TP.HCM có được lượng nước ngâm khá phong phú.
Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0-20 m, 60-90 m và 170-200 m (tang trầm tích Miocen). Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng déi dao, thường được khai thác ở tầng 60-90 m, trở thành nguồn nước bồ sung quan trọng. Điều kiện kinh tế - xã hội 1.