MỞ ĐẦU 1.DAT VAN DE: Trong những năm gần đây, tinh hình mưa bão trên khu vực Thanh phố Hỗ Chí Minh diễn ra phức tạp. Theo các trạm đo các trận mưa lớn diễn ra dày đặc hơn với trữ lượng năm sau cao hơn năm trước 0. Theo Trung Tâm Điều Hanh Chương Trình Chống Ngập Nước Thành phô Hỗ Chí Minh thì lượng mưa hàng năm đã là 1. Nếu trước năm 1971 chưa xuất hiện cơn mưa nào đến 100 mm, nhưng từ năm 1972 đến năm 1991 đã xuất hiện 4 trận mưa vượt qua con số này.
Cũng trong thời gian vừa qua ảnh hưởng của đô thị hóa và biến đôi khí hậu thé hiện ngày càng rõ nét. Mực nước tại trạm Phú An liên tiếp xuất hiện đỉnh lịch sử 1,58m vào các năm 2008 và 2011. Trong năm 2016, mực nước đo được tại trạm Phú An lên mức 1,62 — 1,67m (cao hơn báo động III 0,12 — 0,17m), xuất hiện những cơn mưa có vũ lượng hơn 179 mm làm nhiều tuyến đường bị ngập nặng. Diễn biến bất thường của mưa, triều, lũ theo xu thế ngày càng bat lợi dẫn đến nguy cơ quá tải của các hệ thông thoát nước đang được thiết kế và xây dựng.
Bên cạnh đó, hệ thống thoát nước của Thành phố Hỗ Chí Minh được xây dựng từ trước năm 1954 và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau. Do quá trình xây dựng không đồng bộ cũng như đầu tư chưa đúng mức do còn khó khăn về kinh tế nên đến nay hệ thong thoát nước da xuống cấp, hư hỏng nhiều, tiết diện nhỏ và mật độ xây dựng thấp. Hệ thống thoát nước không còn đảm bảo khả năng cho việc thoát nước khi xuất hiện các trận mưa có cường độ lớn, và kéo theo đó là tình trạng ngập lụt xảy ra trên diện rộng thuộc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, gây ảnh hưởng đến người dân va gây thiệt hại cho nên kinh tế. Đề có thể khắc phục tình trạng trên, cần phải có sự năm bắt một cách chính xác được khả năng thoát nước của các khu vực khi xảy ra các trận mưa có cường độ lớn từ đó có thể đưa ra được các biện pháp giảm ngập lụt và cảnh báo sớm cho người dân khi xảy ra hiện tượng mưa có cường độ lớn.
Nhìn nhận từ những mặt hạn chế và bất cập của thực tế, đề tài luận văn thạc sĩ “ Đánh giả khả năng ngập và thoát nước đường phố khi xảy ra mưa cực trị. Áp dụng cho quận Bình Thạnh ” được hình thành.MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng thoát nước và ngập lụt đường phố của Thành phố Hồ Chí Minh khi xảy ra mưa cực trỊ. Phân tích các nguyên nhân gây ngập lụt tại Thành phố H6 Chí Minh.
Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu ứng dụng mô hình thủy lực EPA - SWMM nghiên cứu khả năng thoát nước trên đường phố quận Bình Thạnh mà điển hình là khu vực bán đảo Thanh Đa khi xảy ra mưa cực tri với các kịch ban mưa khác nhau ( xem như hệ thống cống ngầm thoát nước đường phố bị qua tải khi xảy ra mưa cực trị ) và dé xuất giải pháp giảm ngập cho khu vực ngày. PHAM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu điển hình cho khu vực bán đảo Thanh Đa ( phường 27 và phường 28 ) thuộc quận Bình Thạnh với tong dién tich 6,35 km? va dân số là 28. ( Nguồn : http://www.vn/ ) say” Hình 1.1: Pham vi nghiên cứu — bán dao Thanh Da Trang 2 1.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Để dat được các mục tiêu đề ra, những nội dung sau đây sẽ được thực hiện : - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng quy hoạch xây dựng, chế độ thủy văn, thủy lực, hiện trạng ngập lụt của khu vực bán đảo Thanh Đa; - Lập mô hình toán mô phỏng khả năng thoát nước và gây ngập đường phố khi xảy mưa cực trị tại khu vực nghiên cứu; - Xây dựng bộ đữ liệu đầu vào cho mô hình SWMM để đánh giá tình trạng ngập úng và thoát nước đường phố của khu vực bán đảo Thanh Đa; - Đề xuất các giải pháp giảm ngập cho khu vực bán đảo Thanh Đa.Ý NGHĨA CUA DE TÀI Các kết quả của nghiên cứu có thể được sử dụng như cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định các dé án liên quan đến việc thoát nước đô thị, dé ra phương hướng kiểm soát, ứng phó cũng như giải quyết của chính quyển và cộng đồng địa phương đối với việc ngập lụt đô thị.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp thông kê: Nhăm thu thập và xử lý số liệu khí tượng thủy văn, số liệu địa hình, mạng lưới sông suối, các số liệu về triều. Phương pháp ứng dụng mô hình toán: Sử dụng mô hình toán để mô phỏng khả năng thoát nước đường phố khi xảy ra mưa cực tri.
Trong luận văn sẽ ứng dụng mô hình EPA — SWMM để mô phỏng dòng chảy tràn trên đường phố khi có mưa. TONG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VA THE GIỚI 1. Tổng quan nghiên cứu trong nước Lê Sâm, Nguyễn Đình Vượng, Tran Minh Tuan, năm 2008 đã thực hiện nghiên cứu “Tận dụng kha năng trữ nước của hồ điều hòa dé giám ngập lụt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu đã đánh giá hiện trạng hệ thống kênh rạch ở thành phố Hồ Chí Minh, phân tích sự gia tăng lượng mưa và mực nước thủy triều, qua đó dùng mô hình toán Mike Urban để mô phỏng ngập lụt, thong kê lại tình hình ngập lụt nghiêm trọng ở thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở các quy hoạch tiêu thoát nước và phân tích địa hình trên địa bàn thành phố, các tác giả đã hoạch định phân vùng hỗ diéu hòa, nghiên cứu dé xuất hồ điều hòa: hình dạng, vị trí đặt hỗ điều hòa. Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến cáo về diện tích cần thiết dé xây dựng hồ điều hòa cho từng vùng trên địa bàn thành Trang 3 phố Hỗ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thay giải pháp hỗ điều hòa là một giải pháp tất yếu để giảm khả năng ngập lụt đô thị và đây cũng là nghiên cứu tiên phong sử dụng hỗ điều hòa để giảm ngập cho thành phố Hỗ Chí Minh. Công ty thoát nước đô thị, năm 2009 đã thực hiện nghiên cứu “Lập quy hoạch phân vùng tách mạng hệ thống thoát nước cho lưu vực trung tâm thành phó Hồ Chí Minh”.
Nghiên cứu nêu lên hiện trạng hệ thống thoát nước của thành phố, đưa ra những giải pháp tách mạng cống thoát nước hiện hữu theo các trục tiêu thoát nước, nhằm tối ưu hóa hệ thong thoát nước phục vu giảm ngập va ngăn chan phát sinh thêm điểm ngập mới khi lượng mưa gia tăng, mực nước triéu dâng cao. Đây là nghiên cứu quan trọng, là cở sở tính toán dé thiết lập mô hình toán mô phỏng hệ thống thoát nước thành pho Hồ Chí Minh. Công ty Tư vẫn CDM Camp Dresser và Me Kee International, năm 1999 đã thực hiện “Nghiên cứu khả thi và thiết kế sơ bộ dự án thoát lưu vực Nhiêu Lộc — Thị Nghè ”. Nghiên cứu sử dụng mô hình thủy lực SWMM triển khai cho lưu vực Nhiéu Lộc — Thi Nghè với các mục tiêu như sau: xác định kha năng tiêu thoát nước, xác định các khu vực cần xây mới hoặc mở rộng công thoát nước mưa dé giảm tình trạng ngập lụt, tính toán lưu lượng cần tiêu trong kênh và các chi lưu của nó để xác định các vị trí kênh cần được cải tạo, nạo vét để giảm thiểu tình trạng tràn bờ và hệ thong thu gom nước thải nhằm cải thiện tình trạng môi trường, tạo cảnh quan đô thị.
Nghiên cứu đã dé xuất các giải pháp cải tao nâng cấp hệ thong thoát trên lưu vực Nhiêu Lộc — Thi Nghe. Nhưng với những giải pháp “cứng” như hiện nay thì không thể giải quyết được tình ngập lụt trên lưu vực. Bộ Nong nghiệp va Phát triển nông thôn, năm 2008 đã thực hiện “Quy hoạch thúy lợi phục vụ tim kiếm giải pháp chống ngập lụt cho Thanh phố Hỗ Chí Minh”. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân và hiện trạng ngập ở Thành phố H6 Chí Minh - lũ, mưa và các tổ hợp của chúng — Tác giả đã dé xuất các biện pháp kiếm soát lũ, kiểm soát triều nhằm giải quyết bài toán chống ting ngập cho toàn thành phố trong điều kiện có lũ lớn ở thượng lưu va nước biến dâng trong tương lai.
Các giải pháp được tác giả đề xuất hàng loạt các biện pháp công trình đã được xác định như xây dựng hệ thống công kiểm soát triều, hệ thống đê bao, nạo vét kênh rạch, kiểm soát triều nhằm hạ thấp mực nước triều, tăng cường khả năng tiêu thoát nước của hệ thống công trình thoát nước đô thị ở những vùng đồ thi cũ nằm trên địa Trang 4 hình thấp, định hướng các khung trục tiêu cho khu vực nội thành và vùng ven, xem xét kết hop vận hành công kiểm soát triều với cải thiện môi trường kênh rach, cải tạo các vùng đất phèn và các mục tiêu thủy lợi khác. Quy hoạch đã khái quát, định hướng, là co sở cho các nghiên cứu về giải pháp chống ngập trên dia bàn thành phố Tác giả Hồ Long Phi ứng dụng mô hình SWMM mô phỏng thủy lực cho tuyến cống thoát nước đường phố, mô phỏng ngập trên đường Lê Văn Thọ quận Gò Vấp cho thay một khi khả năng thoát nước cua đoạn công hạ lưu bị cản trở bởi thủy triều, đường áp lực trong công dâng lên rất nhanh và gây ngập cả những khu vực có cao độ trên 5m. Hạn chế của mô hình SWMM trong nghiên cứu này: Tuy tác giả đã nhận định việc áp dụng mô hình SWMM mô phỏng được sự quá tải của công thoát nước gây ngập lụt đường phố và tác động của việc nạo vét kênh Tham Lương - Bến Cát là giảm mực nước trên kênh. Tuy nhiên, kết quả tính toán chưa thé hiện tác động của thủy triều vào hệ thống công ngâm.
Nhóm tác giả Lê Trung Thành và Trần Hữu Hoàng đã ứng dụng phần mềm SWMM cho bài toán thuỷ lực tiêu thoát nước cho lưu vực kênh Tham Lương — Bến Cát — Nước Lên là khu vực thuộc quận ven đô TP Hồ Chí Minh, trong địa bàn có nhiều khu công nghiệp, hệ thống kênh rạch gồm các cống tiêu thoát kết hợp hệ thống kênh mương nối với sông Sài Gòn và chịu ảnh hương triều. Dòng chảy do mưa lấy hệ số dòng chảy theo kinh nghiệm với môđun dòng chảy khoảng 70-100 l/s/ha nhập vào các nút của mồ hình công.