Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được công nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của thế giới với khoảng 10.000 loài thực vật có mạch đã được mô tả, trong đó ước tính khoảng 33% số loài được sử dụng trong y học cổ truyền và công nghiệp dược phẩm. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế cùng sức ép bùng nổ dân số đang tạo ra áp lực nặng nề lên các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Vườn Quốc gia Tam Đảo với tổng diện tích vùng lõi 34.888 ha trải dài trên địa giới ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang đóng vai trò điều hòa khí hậu và bảo vệ nguồn nước cho toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ. Bao quanh khu vực này là vùng đệm có diện tích 53.469 ha với hơn 183.000 nhân khẩu phân bố tại 23 xã, nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như người Sán Dìu và người Dao.

Hoạt động thu hái tài nguyên rừng hiện đóng góp khoảng 24% tổng thu nhập của các hộ gia đình vùng đệm. Áp lực kinh tế cùng nhu cầu thương mại hóa dược liệu đã dẫn đến khối lượng khai thác cây thuốc tự nhiên tại Tam Đảo ước tính đạt từ 450 đến 570 tấn mỗi năm. Tình trạng khai thác quá mức và thiếu kiểm soát khiến nguồn tài nguyên cây thuốc tại đây suy thoái nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến ít nhất 30 loài nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam và 6 loài thuộc danh mục của IUCN. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm điều tra, đánh giá toàn diện tính đa dạng của hệ thực vật làm thuốc, ghi nhận kinh nghiệm dân gian của cộng đồng bản địa, từ đó xác lập cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn nguồn gen và định hướng sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật tại khu vực nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết về phân loại thực vật học, sinh thái học bảo tồn và thực vật dân tộc học (Ethnobotany). Cấu trúc phân loại taxon của hệ thực vật được chuẩn hóa theo hệ thống phân loại của Brummit (1992). Đánh giá mức độ đa dạng của các bậc taxon được thực hiện dựa trên quy chuẩn phân tích thực vật nhiệt đới của Tolmachov A. (1974), xác định khu hệ đạt độ đa dạng cao khi tỷ lệ phần trăm số loài của 10 họ giàu nhất (chỉ số P%) nhỏ hơn 50% tổng số loài được ghi nhận.

Khung lý thuyết phân chia dạng sống thực vật dựa trên bảng chuẩn 14 dạng sống cơ bản theo Tên cây rừng Việt Nam. Đánh giá tính bền vững trong khai thác tài nguyên dựa trên mối liên hệ giữa bộ phận sử dụng và khả năng tái sinh quần thể. Mức độ đe dọa và thứ bậc ưu tiên bảo tồn của các loài cây thuốc được đối chiếu trực tiếp với Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam và các tiêu chí quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu thực vật học truyền thống và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia. Cỡ mẫu tiêu bản thực vật được thu thập theo quy chuẩn kích thước 41x29 cm đối với mẫu chính và kích thước 20-30 cm đối với mẫu nhỏ bổ trợ, thu thập từ 3 đến 5 mẫu trên cùng một cá thể cây lớn hoặc 3 đến 5 cá thể sống gần nhau đối với cây thảo và dương xỉ. Các mẫu sau thu thập được xử lý cắt tỉa, kẹp báo định hình và ngâm trong dung dịch cồn 40 đến 45 độ trước khi sấy khô để phân tích hình thái so sánh và giám định tên khoa học.

Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn được thực hiện có chủ đích thông qua kỹ thuật Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) tại các xã trọng điểm thuộc phía Nam và Tây Nam vùng đệm Tam Đảo. Đối tượng khảo sát tập trung vào các ông lang, bà mế, thầy thuốc nam và người trực tiếp thu hái dược liệu có hiểu biết sâu sắc về trị bệnh dân gian. Công cụ điều tra sử dụng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc kết hợp phỏng vấn mở tự do nhằm ghi nhận tên bản địa, bộ phận dùng, phương thức thu hái, cách chế biến, sao tẩm và 21 nhóm bệnh điều trị. Việc lựa chọn phương pháp này giúp tối ưu hóa độ chính xác của dữ liệu thực địa, phản ánh chân thực tri thức bản địa và gắn kết chặt chẽ giữa đặc tính sinh học loài với bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã ghi nhận 479 loài cây thuốc thuộc 351 chi, 129 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm. So với toàn bộ hệ thực vật làm thuốc của Việt Nam với 3.870 loài, 1.525 chi và 272 họ, khu vực Tam Đảo chiếm tới 47,43% tổng số họ, 23,02% tổng số chi và 12,38% tổng số loài. Sự phân bố giữa các ngành có sự chênh lệch rõ rệt, trong đó ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 455 loài (chiếm 95,99%), 332 chi (chiếm 94,60%) và 111 họ (chiếm 86,06%). Các ngành còn lại chiếm tỷ trọng nhỏ: ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 12 loài (2,50%), ngành Thông (Pinophyta) có 5 loài (1,04%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 4 loài (0,84%), ngành Nấm (Mycophyta) có 2 loài (0,42%) và ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 1 loài (0,21%).

Tính đa dạng về họ được khẳng định qua chỉ số P% của 10 họ giàu loài nhất chỉ chiếm 158 loài, tương đương 33,99% (thấp hơn ngưỡng 50% theo Tolmachov). Trong đó, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) đứng đầu với 34 loài (7,09%), tiếp theo là họ Cà phê (Rubiaceae) với 19 loài (3,96%), họ Cúc (Asteraceae) và họ Dâu tằm (Moraceae) cùng có 17 loài (3,55%). Ở bậc chi, chi Ficus phong phú nhất với 10 loài (2,11%), tổng số 10 chi giàu nhất chiếm 45 loài (9,49%). Về dạng sống, cây thuốc tại đây phân bố ở 14 dạng sống khác nhau, ưu thế nhất là cỏ đứng với 131 loài (27,35%), cây bụi 85 loài (17,75%), cây gỗ nhỏ 63 loài (13,15%) và cây gỗ lớn 53 loài (11,06%). Về sinh cảnh, môi trường rừng chứa đựng số lượng lớn nhất với 306 loài (63,88%), tiếp theo là vườn và nương rẫy 192 loài (40,08%), đồi cây bụi 153 loài (31,94%) và môi trường gần nước 54 loài (11,27%).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu về sự phân bố taxon và dạng sống có thể được biểu diễn một cách trực quan thông qua biểu đồ hình tròn về tỷ trọng các ngành thực vật và biểu đồ cột so sánh 14 nhóm dạng sống, giúp làm nổi bật cấu trúc sinh thái đặc trưng của vùng núi cao Tam Đảo. Phân tích thực trạng khai thác cho thấy gần 80% cây thuốc được người dân thu hái trực tiếp từ rừng tự nhiên. Có 13 loài cây thuốc đang bị khai thác thường xuyên với tần suất rất cao phục vụ thương mại như Ba kích, Cát sâm, Gối hạc, Hoàng đằng, Cốt toái bổ, Rau ráu, Huyết đằng, Dây đau xương và Núc nác.

Đặc biệt, đánh giá tính bền vững theo bộ phận sử dụng chỉ ra rủi ro sinh thái rất lớn. Mặc dù lá là bộ phận được dùng nhiều nhất với 188 loài (39,25%, có tính bền vững cao), nhưng việc khai thác rễ với 187 loài (39,04%) và khai thác toàn bộ cây với 106 loài (22,13%) lại chiếm tỷ lệ rất cao. Khai thác rễ và nhổ cả cây làm mất hoàn toàn khả năng tái sinh tự nhiên của quần thể thực vật. Tri thức bản địa của người Dao và Sán Dìu chữa trị 21 nhóm bệnh, trong đó phổ biến nhất là bệnh ngoài da với 161 loài (33,61%), bệnh tiêu hóa 139 loài (29,02%) và bệnh phụ nữ 133 loài (27,77%). Bảng tổng hợp các nhóm bệnh kết hợp chỉ tiêu bộ phận dùng chứng minh tính cấp bách của việc thay đổi kỹ thuật thu hái và xây dựng vùng trồng nhân tạo nhằm giảm bớt áp lực khai thác cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn hiệu quả và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm, các giải pháp mang tính chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, quy hoạch và xây dựng 2 đến 3 vườn bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) cùng trạm lưu giữ nguồn gen cây thuốc quý bản địa. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo giữ vai trò chủ trì, đặt mục tiêu thu thập, lưu giữ và nhân giống bảo tồn ít nhất 50 loài cây thuốc có nguy cơ đe dọa cao trong giai đoạn từ năm 2026 đến 2028.

Thứ hai, chuyển giao quy trình kỹ thuật nhân giống và canh tác thương mại các loài có giá trị kinh tế cao cho cộng đồng dân tộc vùng đệm. Trung tâm Khuyến nông phối hợp cùng các viện nghiên cứu dược liệu tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng Ba kích, Cát sâm, Khôi tía dưới tán rừng và vườn nhà cho khoảng 500 hộ gia đình, đặt mục tiêu giảm 50% khối lượng dược liệu khai thác trái phép từ rừng tự nhiên trong 3 năm tới.

Thứ ba, thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm dược liệu sạch giữa các hợp tác xã địa phương và doanh nghiệp sản xuất dược phẩm. Việc chuẩn hóa quy trình sơ chế, phơi sấy và sao tẩm theo tiêu chuẩn an toàn giúp giảm tỷ lệ hư hỏng ẩm mốc từ 25% xuống dưới 5%, đồng thời tăng thu nhập của người dân địa phương thêm 30% đến 40%.

Thứ tư, tăng cường thực thi pháp luật và tuần tra rừng nghiêm ngặt theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP. Lực lượng kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với chính quyền 23 xã vùng đệm để giám sát các tuyến thu mua, xử phạt nghiêm hành vi khai thác tận diệt rễ củ trong vùng lõi, kết hợp lồng ghép hương ước cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Nhà nghiên cứu thực vật học, sinh thái học và dược liệu học: Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về 479 loài cây thuốc, danh mục 129 họ thực vật và đặc điểm phân bố sinh thái, làm tài liệu tham khảo nền tảng cho các nghiên cứu chiết xuất hoạt chất hóa học và sàng lọc dược tính chuyên sâu.

  2. Ban Quản lý các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên: Đơn vị quản lý có thể ứng dụng trực tiếp phương pháp đánh giá tính bền vững theo bộ phận thu hái và chỉ số đa dạng Tolmachov để xây dựng kế hoạch quản lý rừng, phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và kiểm soát hoạt động lâm sản phụ.

  3. Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm và phát triển vùng trồng: Doanh nghiệp tiếp cận danh mục 13 loài cây thuốc bản địa có nhu cầu thương mại lớn để lập dự án đầu tư vườn ươm, phát triển vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu (GACP-WHO).

  4. Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức phát triển nông thôn: Cán bộ hoạch định chính sách tham khảo mô hình liên kết bảo tồn nguồn gen với phát triển sinh kế cộng đồng, từ đó xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn tri thức bản địa của đồng bào thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm? Nghiên cứu đã điều tra và xác định được 479 loài cây thuốc thuộc 351 chi, 129 họ của 6 ngành thực vật có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 455 loài (chiếm 95,99%), đóng góp 12,38% tổng số loài thực vật làm thuốc trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

  2. Tại sao việc khai thác cây thuốc tại Tam Đảo hiện nay bị đánh giá là có tính bền vững thấp? Thực trạng khai thác có tính bền vững thấp do người dân tập trung thu hái các bộ phận thiết yếu cho sự sống của cây, cụ thể là rễ củ chiếm 39,04% và nhổ cả cây chiếm 22,13% tổng số loài. Sản lượng khai thác tự nhiên lên tới 450 đến 570 tấn mỗi năm khiến quần thể thực vật bị cạn kiệt và mất khả năng tái sinh tự nhiên.

  3. Những cộng đồng dân tộc nào đóng góp tri thức bản địa quan trọng trong nghiên cứu này? Đồng bào dân tộc Sán Dìu và dân tộc Dao sinh sống tại 23 xã vùng đệm đóng góp phần lớn tri thức sử dụng cây thuốc. Kinh nghiệm dân gian của họ bao quát phương pháp chữa trị 21 nhóm bệnh khác nhau, nổi bật nhất là 161 loài trị bệnh ngoài da và 139 loài trị bệnh tiêu hóa.

  4. Tiêu chí nào được sử dụng để chứng minh tính đa dạng về bậc họ của hệ thực vật cây thuốc Tam Đảo? Nghiên cứu áp dụng công thức tính của Tolmachov A. (1974). Tỷ lệ phần trăm tổng số loài trong 10 họ giàu nhất (P%) đạt 33,99%, nhỏ hơn rất nhiều so với ngưỡng chuẩn 50%. Kết quả này chứng minh hệ thực vật làm thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo có độ đa dạng bậc họ rất cao.

  5. Những loài cây thuốc nào tại khu vực đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao nhất? Khoảng 13 loài cây thuốc đang chịu áp lực khai thác cực lớn phục vụ thương mại như Ba kích, Cát sâm, Cốt toái bổ, Hoàng đằng, Gối hạc, Huyết đằng và Rau ráu. Các loài này nằm trong diện bảo vệ ưu tiên theo Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP do bị đào xới rễ củ và khai thác triệt để.

Kết luận

  • Hệ thực vật làm thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm phong phú với 479 loài thuộc 351 chi và 129 họ, đóng góp 12,38% tổng số loài cây thuốc toàn quốc.
  • Ngành Ngọc lan giữ vai trò thống phối với 455 loài; chỉ số 10 họ giàu loài nhất chiếm 33,99% khẳng định tính đa dạng sinh học cao của khu hệ.
  • Tri thức bản địa của đồng bào Dao và Sán Dìu nắm giữ kho tàng kinh nghiệm chữa trị 21 nhóm bệnh với các phương pháp chế biến đặc trưng.
  • Áp lực khai thác rễ củ chiếm 39,04% và cả cây chiếm 22,13% đang đe dọa trực tiếp sự sinh tồn của 13 loài dược liệu thương mại có giá trị cao.
  • Giải pháp cốt lõi giai đoạn 2026-2030 là kết hợp bảo tồn chuyển chỗ với phát triển vùng trồng dược liệu thương mại nhằm thay thế nguồn khai thác tự nhiên.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học định lượng chuẩn xác về thành phần loài, dạng sống, sinh cảnh và tập quán sử dụng cây thuốc tại Tam Đảo. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi sự chung tay giữa cơ quan quản lý rừng, các viện nghiên cứu và doanh nghiệp dược phẩm nhằm triển khai nhân rộng mô hình bảo tồn gắn với sinh kế bền vững. Hãy cùng hành động để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên dược liệu quý giá của quốc gia.