Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Thực vật là nguồn dược liệu quan trọng và có vai trò to lớn đối với sức khỏe con người [28]. Hầu hết các nền văn hóa, từ thời cổ đại đến ngày nay đã biết sử dụng các loài thực vật làm thuốc. Ngày nay, thực vật làm thuốc có vai trò quan trọng cho kinh tế toàn cầu [37], bởi lẽ khoảng 85% các bài thuốc truyền thống có sử dụng thực vật hoặc các chất tiết từ thực vật [38].
Trong vài thập niên gần đây, những quan tâm về việc nghiên cứu và sử dụng thực vật làm thuốc trong chăm sóc sức khỏe và sự nhận thức về tầm quan trọng của cây dược liệu đối với sức khỏe con người [31]. Sự thức tỉnh này đã dẫn đến sự gia tăng đột ngột về nhu cầu của thảo dược, và sau đó người ta nhận ra rằng, khả năng cung cấp thảo dược đang có nguy cơ suy giảm trên toàn cầu [26]. Hiê ̣n nay trên thế giới đã có hơn 35.000 loài thực vâ ̣t đang đươ ̣c sử dụng vào mu ̣c đích làm dươ ̣c liê ̣u để chữa bê ̣nh, nhiề u loài trong số chúng là đố i tươ ̣ng không thể kiể m soát đươ ̣c trong các hoa ̣t đô ̣ng buôn bán ở qui mô điạ phương hoă ̣c quố c tế. Cho đế n nay, các sản phẩ m tự nhiên chỉ có mô ̣t it́ loài thực vâ ̣t đã đươ ̣c phân tích hoàn chin̉ h để làm thuố c.
Với mức đô ̣ mấ t đi mỗi năm khoảng 3.000 loài thực vâ ̣t ́ h là nguyên nhân chủ yế u làm mấ t đi các nguồ n dươ ̣c liê ̣u tiề m tàng Số lượng chin và chất lượng suy giảm phạm vi phân bố hẹp của rất nhiều loài thực vật quý hiếm do mất môi trường sống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác bừa bãi của con người. nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã và sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng. Hậu quả là nguồn gen cây thuốc đang bị xói mòn một cách trầm trọng ở nhiều nơi trên thế giới. Tình trạng này càng trở nên nguy hiểm ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, và nạn phá rừng thường xuyên xảy ra, đặc biệt ở các nước Nam và Đông Nam châu Á.
Những quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tập, gìn giữ và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử dụng chúng một cách có hiệu quả [32]. Ở Banglades có loài Tylopora cindica Mer. dùng để chữa bệnh hen đứng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Một số loài cây thuốc quý có ở vùng Đông Bắc Ấn Độ là Coptis teeta, trước kia cũng thường thu hái để bán sang các nước Đông Á, song do khai thác quá mức nên loài này đang ở tình trạng hết sức nguy hiểm.
Vì vậy song song với nghiên cứu về sử dụng cây thuốc thì một vấn đề cấp bách khác được đặt ra là phải bảo tồn các loài cây thuốc. Toàn bộ ngành công nghiệp dược phẩm hầu như phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn cung cấp nguyên liệu thô từ tự nhiên cho việc chiết suất các hợp chất quan trọng cho y học. Sự đa dạng về nguồn gen các loài dược thảo trên thế giới càng bị đe dọa ở mức báo động vì sự khai thác quá mức và có tính tàn hại các nguồn dược liệu và hầu như không quan tâm đến tương lai. Bên cạnh đó, sự phá hủy trầm trọng môi trường sống của nhiều loài thực vật do phá rừng, phát triển nông nghiệp, đô thị hóa, v.
cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này. Do đó, sự hiểu biết về bảo tồn, gây trồng, và sử dụng bền vững các loài dược thảo quan trọng cho tương lai là cần thiết. Thực vật làm thuốc có tính đa dạng rất cao và có nhiều loài trong số chúng phát triển rất tốt trong tự nhiên. Đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào hoạt động khai thác, bảo tồn và phát triển chúng ngoài tự nhiên cũng như trong điều kiện thí nghiệm.
Tuy nhiên, các nỗ lực của các chương trình bảo tồn cây thuốc còn rất khiêm tốn trong việc tìm ra điều kiện tối ưu cho khả năng sinh tồn của chúng ngoài tự nhiên. Các yêu cầu cả về sinh lí và sinh thái học của các loài thực vật này cần phải được xác định trước khi gây trồng và phát triển chúng (Chadha và Gupta, 1995). Chính vì vậy, hoạt động nghiên cứu các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học phục vụ công tác bảo tồn bảo tồn tại chỗ (In situ) cần được áp dụng nhiều hơn với các ưu tiên về chính sách sử dụng đất nhằm giúp cho việc bảo tồn các loài thực vật dùng để làm thuốc thực sự có hiệu quả (Ramanatha và Arora, 2004). Mặc dù vậy, người dân đang phát triển ở các nước châu Á chỉ mới khai thác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong gia đình, trừ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nepal là trồng chúng với mục đích thương mại.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Trong tương lai, để phục vụ cho mục đích sức khỏe con người, cho sự phát triển không ngừng của xã hội, để chống lại các bệnh nan y thì cần thiết có sự kết hợp giữa Đông và Tây y, với y học hiện đại và kinh nghiệm cổ truyền dân tộc. Chính những kinh nghiệm truyền thống đó là điểm mấu chốt để nhân loại khám phá những loại thuốc chống lại bệnh nan y. Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các lại cây thuốc là điều hết sức cần thiết. Các nước trên thế giới đang hướng đến chương trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc.
Cùng với sự phát triển của công nghê sinh học, việc nhân giống các loài cây dược liệu bằng phương pháp In Vitro đã được nhiều nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan,. tiến hành và đã đem lại kế quả đáng khích lệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của việc sản xuất dược liệu [26]. Ở Việt Nam Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới, nơi hội tụ của hệ sinh vật Trung Quốc - Ấn Độ - Mã Lai. Do sự đa dạng về địa hình, khí hậu mà rừng Việt Nam có hệ động vật và thực vật tự nhiên được đánh giá là phong phú trên thế giới.
Theo kết quả điều tra của các nhà khoa học cho biết: Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, 620 loài nấm, 800 loài rêu và hàng trăm các loài tảo lớn; trong đó có khoảng 3.800 loài thực vật dùng làm thuốc, chúng phân bố trên khắp các điều kiện lập địa khác nhau của nước ta. Theo thống kê chưa đầy đủ ở Gia Lai - Kon Ttum có khoảng 921 loài cây được người dân sử dụng làm thuốc; Đắc Lăk có 777 loài; Lâm Đồng 715 loài; Phú Yên, Khánh Hòa: 782 loài; Quảng Ngãi, Bình Định: 866 loài; Quảng Nam - Đà Nẵng có 735 loài; VQG Bạch Mã (T.Huế): 585 loài; Rừng Hoàng Liên Sơn: 866 loài;. Trong đó có nhiều loài cây thuốc quý như: Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis), Cẩu tích (Cibotium azomets); Vàng đắng (Coscintum usitatum), Bình vôi (Stephania rotunda L.), (Bình vôi tía (Stephania dielsiana); Hồi (Illicium vertum), Thanh hao vàng (Artermisia annua L.[20] Mặt khác, Việt Nam còn là nơi giao lưu của các dân tộc và các nền văn hóa, trong đó quan trọng nhất là hai luồng văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ; là ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán, kiến thức và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc khác nhau. Tổng hợp các yếu tố trên dẫn đến sự đa dạng về kiến thức sử dụng cây thuốc ở Việt Nam.
Qua quá trình phát triển của mỗi dân tộc, những kiến thức quý báu đó đã dần được đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và được lưu truyền rộng rãi trong dân ta. Trong các sách cổ của Việt Nam còn lại, như "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh (thế kỷ 14) ghi chép 496 cây thuốc và vị thuốc; "Hồng nghĩa giác tư y thứ" có 600 vị thuốc và cây thuốc nam. Trong bộ "Lĩnh Nam bản thảo" của Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ 18) giới thiệu hơn 700 vị thuốc và phương thuốc nam, hay trong "Nam dược chỉ danh truyền" của Nguyễn Quang Lượng (thế kỷ 19) ghi chép 500 vị thuốc nam, v.Vào các thời điểm đó, do chưa tiếp cận được với khoa học thực vật học tiên tiến, nên trong tất cả các tài liệu trên không định rõ cụ thể bao nhiêu loài cây thuốc được nghiên cứu, để ghi ra được hàng trăm vị thuốc kể trên. Đến đầu thế kỷ 20, trong quá trình thu thập mẫu để xây dựng bộ "thực vật chí tổng quát Đông Dương" (M.
Lecomte, 1909 - 1953; Flore Générale de L'Indochine) và bộ sản phẩm Đông Dương (Ch.Petelot, 1928; Catalogue des Produits de L'Indochine - t.V, Produits Medicinaux), các nhà thực vật học Pháp đã mô tả các loài cây thuốc theo danh pháp của phân loại thực vật, kèm theo công dụng chữa bệnh và cách sử dụng của người dân. Đến năm 2003, số loài cây thuốc được phát hiện ở Việt Nam đã lên đến 3854 loài, thuộc 309 họ của 9 ngành thực vật khác nhau (kể cả nấm làm thuốc). Với 3854 loài cây thuốc đã ghi nhận được, so với gần 12.000 loài thực vật cho phép khẳng định Việt Nam có nguồn cây thuốc phong phú và đa dạng. Trong đó có gần 40% số loài ghi chép được tên gọi theo các dân tộc (Tày, Thái, H'Mông, Nùng, Dao, Ba Na, K'Dong, H'Rê, Xê Đăng, Ê Đê, Kà Tu, v.
Khoảng gần 80% số loài có công dụng làm thuốc, là thông tin của cộng đồng các dân tộc ở các địa phương cung cấp. Các thông tin này về cơ bản được ghi nguyên vẹn, làm tài liệu tham khảo cho các nhà dược học và hoá học nghiên cứu xác minh. Viện Dược liệu ở nước ta đã sưu tầm được hàng trăm bài thuốc (gồm từ hai đến nhiều cây thuốc, vị thuốc khác nhau). Có thể tham khảo các công trình khoa học của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Viện Dược Liệu như: Sổ tay cây thuốc Việt Nam, 1973, 1980; Tài nguyên cây thuốc Việt nam, 1993; Selected Medicinal Plants in Vietnam, Vol.I và II, 1999; Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I và II, 2004.