Chương 1 TỔNG QUAN VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về các công trình đã công bố vấn đề nghiên cứu 1. Lược sử nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng Trải qua nhiều thế kỷ, con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như là một nguồn thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh.
Theo WHO đến năm 1985, trên thế giới đã có khoảng 20.000 loài thực vật được dùng trực tiếp để làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong đó, vùng nhiệt đới châu Á ước tính có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc.000 loài, Trung Quốc 5. Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc ở dạng cổ truyền (cao, thuốc ngâm rượu, thuốc sắc,…); thì nhiều năm nay người ta đã chế được ra nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên. Cho đến nay chưa có con số chính xác thống kê về tổng số lượng thực vật được sử dụng là bao nhiêu, chỉ đoán là rất lớn [26].
Theo thống kê của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 loài được sử dụng vào mục đích chữa bệnh. Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong y học truyền thống [27]. Châu Mỹ La Tinh nơi có chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa. Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia.
Các quốc gia Châu Phi số loài cây thuốc ít hơn như Somalia có 200 loài, Botswana có 314 loài. Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong thời gian khoảng 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 trên 700 cây thuốc trong đó có cây Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu. Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo 365 vị và loài cây thuốc (khoảng 5.000 năm trước đây). Nền y học cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ đều ghi nhận lịch sử sử dụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3.
Vào đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, người ta đã biết dùng các lá của cây chè (Thea siamensis L.) đặc để rửa các vết thương và tắm ghẻ. Thần Nông là người đầu sưu tầm, ghi chép nên 365 vị thuốc Đông Y trong cuốn sách "Mục lục thuốc thảo mộc" từ hàng ngàn năm trước đây. Từ thời cổ xưa các chiến binh La Mã đã dùng cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa các vết thương cho chóng lành sẹo mà ngày nay đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước chứng minh. Kinh nghiệm của người cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ quả Óc chó (Juglans regia L.) dùng để chữa loét vết thương lâu ngày.
Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1.000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and South east Asia" 1985. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thế Giới (IUNC) cho biết trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này có thông tin, hiện tại có khoảng 30.000 loài được coi là tuyệt chủng ở mức độ khác nhau. Nhiều quốc gia trên Thế giới đã có nhiều chính sách cụ thể để vừa bảo tồn, vừa khai thác hợp lý nguồn gen cây thuốc. Đáng chú ý ở Nam Ninh (Trung Quốc) có vườn thuốc rộng 250 ha, đã thu thập và trồng được 2.500 loài cây thuốc, vườn phát triển cây thuốc ở Bắc Kinh rộng hơn 70ha đã trồng được hơn 1.000 loài cây thuốc [28].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hiện đại hóa nền y học cổ truyền được nhiều Tổ chức; Chính phủ quan tâm nhằm tạo ra những dạng bào chế mới; thuốc mới đáp ứng nhu cầu làm thuốc dự phòng và chữa bệnh. Cho tới nay có hơn 30.000 hoạt chất được tách chiết từ nguồn thực vật, rất nhiều hoạt chất có giá trị cao. Nhu cầu về hoạt chất có nguồn gốc thực vật ngày càng tăng, trong khi đó nguồn thực vật cung cấp có hạn, phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Năng suất, điều kiện khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, điều kiện thổ nhưỡng,… Chính vì vậy, nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật được nhiều quốc gia quan tâm, đầu tư phát triển… Những sản phẩm của sinh khối tế bào thực vật đã được thương mại hóa, có giá trị cao trong nhiều lĩnh vực: dược phẩm (thuốc điều trị các bệnh đái đường, bệnh tim mạch, bệnh gan mật, thuốc bổ dưỡng,., các thực phẩm bổ dưỡng, mỹ phẩm, chất phụ gia thực phẩm (chất màu, hương liệu, gia vị, các chất dùng trong chế biến thực phẩm), các chất dùng trong nông nghiệp,… Các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người ngày nay đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng.
Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại bị đe dọa vào thế kỷ sau. Trong số những loài thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nhỏ của thực vật có khả năng làm thuốc, hoặc khả năng này con người chưa phát hiện mà đã bị tuyệt chủng. Theo Tổ chức Ngân hàng Thế Giới (WB), tri thức truyền thống về y học ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh rất dễ bị đe dọa. Tri thức này đang bị mất với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác.
Trên thế giới có khoảng 1.000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 số đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroc, 61 loài ở Thái Lan và 35 loài ở Băngladet. Trước tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm từ rất sớm. Công ước CITES (ngày 01 tháng 03 năm 1973) tại Washington với mục tiêu về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp.
Đây chính là công cụ hỗ trợ các quốc gia ngăn chặn buôn bán quốc tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhận thức về bảo tồn loài [29]. Tại Hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 - 27 tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai - Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đã được đặt ra. Công ước đa dạng sinh học của hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Rio de Janiero năm 1992 có các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen. Công ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn trong các điều kiện tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết các nhu cầu xác định và giám sát các thành phần đa dạng sinh học quan trọng.
Công ước là chìa khóa quan trọng để ngăn chặn sự tuyệt chủng của các loài động thực vật hoang dã nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng trong thế kỷ 21. Xu hướng trên thế giới hiện nay là vừa bảo tồn những cây, con thuốc quý hiếm, vừa có kế hoạch khai thác có hiệu quả những nguồn gen này để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng cao; giá thành phù hợp. Tình hình nghiên cứu bảo tồn và phát triển loài Củ dòm trên thế giới Củ dòm là một loài thực vật có hoa được Y.
Wu miêu tả khoa học đầu tiên năm 1940. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tên khoa học: Stephania dielsiana Y. Wu, Bot, Jahrb. 1940 Tên Trung Quốc: Xue san shu Thuộc: Họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lương (Ranunculales).
Hình thái: Củ dòm đã được nhiều tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức mô tả. Việc mô tả nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả. Theo cuốn Hệ thực vật rừng Trung Quốc. Củ dòm là cây thân thảo, sống nhiều năm, rễ củ to, dạng khối cầu, kích thước biến đổi nhiều.
Thân nhỏ mọc leo 2 – 3 mét, thân già màu nâu bạc, thân non tím nhạt, thân, lá, cụm hoa không có lông. Lá đơn nguyên, mọc cách. Hoa đơn tính khác gốc [30]. - Sinh học và sinh thái học: Phân bố ở bìa rừng, ven suối.
Mọc chồi thân từ cổ rễ vào đầu mùa xuân. Sau khi bị chặt phần còn lại vẫn có khả năng tái sinh, cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng, thường mọc ở rừng kín thường xanh ẩm đã trở nên thứ sinh, ở độ cao 300 – 500 m. - Phân bố: Củ dòm mọc ở bìa rừng hoặc nơi có đá lộ đầu ven suối, hiện còn phân bố ở Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam của Trung Quốc. - Giá trị sử dụng: Theo viện dược liệu Trung Quốc, Củ dòm có giá trị rất đặc biệt trong việc điều trị các bệnh liên quan đến đau xương khớp và các bệnh liên quan đến hệ thần kinh, giảm đau.
- Tình trạng: Sẽ nguy cấp, cây có trữ lượng ít, bị khai thác nhiều, mức đe dọa bậc V. - Phân hạng: Trong danh lục sách đỏ IUCN thuộc nhóm VU. - Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong sách đỏ của tổ chức bảo tồn IUCN 1992 với cấp đánh giá “sẽ nguy cấp” (V), bảo vệ các cá thể còn sót lại trong tự nhiên, thu thập về trồng nghiên cứu bảo tồn ngoại vi (ex-situ). Trồng được bằng hoặc cây con mọc tự nhiên.
Lược sử nghiên cứu ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật.