Tổng quan luận án
Họ Na (Annonaceae Juss) là một họ thực vật lớn trên thế giới, bao gồm khoảng 135 chi và khoảng 2.500 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó các trung tâm đa dạng lớn nhất thuộc khu vực Indo-Malaysia và nhiệt đới châu Mỹ. Tại Việt Nam, họ Na có bốn loài phổ biến, trong đó ba loài cây trồng gồm Annona squamosa L., Annona muricata L. và Annona glabra L. đã được nghiên cứu tương đối toàn diện về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học. Ngược lại, loài bình bát (Annona reticulata L.) ở Việt Nam chưa nhận được sự quan tâm nghiên cứu tương xứng; số lượng các công trình khảo sát về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của loài này còn hạn chế về cả quy mô lẫn chiều sâu. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về loài Annona reticulata L. có ý nghĩa khoa học trong việc đánh giá nguồn tài nguyên thiên nhiên và bổ sung dữ liệu cho ngành hóa học các hợp chất thiên nhiên cùng dược liệu học.
Luận án tiến sĩ hóa học với đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cây bình bát (Annona reticulata L.) ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Hùng thực hiện tại Trường Đại học Vinh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Trần Đình Thắng và GS. TS Yang Chang Wu, thuộc chuyên ngành Hóa hữu cơ (mã số 62.14).
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể bao gồm bốn nội dung chính:
- Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các hợp chất từ lá và hạt của cây bình bát (Annona reticulata L.).
- Sử dụng các phương pháp sắc ký và kết tinh phân đoạn để phân lập các hợp chất sạch.
- Sử dụng các phương pháp phổ hiện đại để xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất thu được.
- Thử nghiệm hoạt tính sinh học (ức chế sự sản sinh NO) của một số hợp chất sạch phân lập được từ lá và hạt cây bình bát.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mẫu lá và hạt cây bình bát (Annona reticulata L.) thuộc họ Na (Annonaceae). Về phạm vi không gian và thời gian, mẫu thực vật được thu hái tại tỉnh Tiền Giang vào tháng 3 năm 2010 và tháng 11 năm 2011. Mẫu nghiên cứu đã được PGS. Trần Huy Thái thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật định danh khoa học; tiêu bản mẫu thực vật mang ký hiệu Viet-TSWu-20101015 được lưu giữ tại Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về đặc điểm thực vật học, thành phần hóa học và hoạt tính sinh thái, dược lý của chi Annona nói chung và loài Annona reticulata L. nói riêng. Về mặt hóa học thực vật, các nghiên cứu trước đây đã chứng minh chi Annona chứa các nhóm hợp chất chuyển hóa thứ cấp đặc trưng:
- Các hợp chất diterpenoid kauran và nor-kauran: Bộ khung 20 carbon bốn vòng (kauran) hoặc 19 carbon (nor-kauran), tiêu biểu như annosquamosin A-E, acid kaurenoic (ent-kaur-16-en-19-oic acid), annoglabasin A-F, annocherin A được công bố bởi các nhóm tác giả Wu, Chen và cộng sự từ các loài A. squamosa, A. glabra, A. cherimola.
- Các hợp chất alkaloid: Đa dạng với các kiểu khung cấu trúc như isoquinoline đơn giản (cherianoine, cherimoline), khung seco-benzylisoquinoline (annocherine A-B từ A. cherimola, annonelliptine từ A. cristalensis, (+)-reticuline từ A. sericea), khung tetrahydroprotoberberine (pessoine từ A. spinescens, coreximine từ A. paludosa), khung proaporphine (glaziovine, promucosine), khung miscellaneous isoquinoline (asimilobine, corydine, anonaine, xylopine), khung oxoaporphine (atherospermidine, lanuginosine, moschatoline), khung phenanthrene (argentinine, atherosperminine) và các alkaloid kiểu nonisoquinoline (các chuỗi N-fatty acyl tryptamin, aristololactam A-B).
- Các hợp chất lignan: Bao gồm các lignan kiểu furofuran (eudesmin, (+)-syringaresinol, liriodendrin), coumarinolignan (cleomiscosin A-C), cùng các khung 7,9'-dinorlignan (squadinorlignoside), 2,7'-cyclolignan, diarylbutanelignan, epoxylignan và neolignan được Yang Y. L. và cộng sự phân lập từ A. squamosa.
- Các hợp chất acetogenin: Lớp hợp chất polyketide đặc trưng cấu tạo từ 35-37 nguyên tử carbon, dẫn xuất từ acid béo mang một đầu vòng γ-lactone kết hợp với các vòng tetrahydrofuran (THF) dọc chuỗi alkyl, phân loại thành các kiểu cấu trúc A, B, C, D, E và các dạng tiểu loại 1a, 1b, 2, 3 (như bullatacin, rolliniastatin-1, rolliniastatin-2, squamocin, solamin, diepomuricanin).
- Các hợp chất flavonoid và cyclopeptide: Các glycoside của kaempferol, quercetin, isorhamnetin; các peptide vòng như glabrin A, cycloreticulin A, B, C từ hạt.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về loài bình bát (Annona reticulata) trước đây chủ yếu tập trung vào một số lớp chất nhất định. Cụ thể, trong các năm 1993, 1994 và 1995, nhóm nghiên cứu của Vũ Thị Tâm đã phân lập một số acetogenin từ hạt bình bát thu hái tại Vĩnh Long (bao gồm squamocin, rolliniastatin I, dieporeticanin-1, dieporeticanin-2, dieporeticenin, trieporeticanin, diepomuricanin, reticulatain-1, reticulatain-2, reticulatamone). Đến năm 2013, nhóm nghiên cứu của Trần Đình Thắng tiến hành phân tích thành phần dầu bay hơi của loài này.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là thực hiện khảo sát toàn diện, phân lập sâu các nhóm hợp chất từ các phân đoạn chiết khác nhau của cả hai bộ phận lá và hạt bình bát ở Việt Nam, kết hợp xác định cấu trúc lập thể và đánh giá hoạt tính ức chế sự sản sinh NO trên dòng tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 của các hợp chất tinh khiết thu được.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng hệ thống phương pháp thực nghiệm trong hóa học các hợp chất thiên nhiên, kết hợp giữa quy trình chiết xuất - phân lập sắc ký và các phương pháp vật lý, quang phổ hiện đại để làm sáng tỏ cấu trúc hóa học, cùng quy trình sinh học in vitro chuẩn mực.
Phương pháp chiết xuất và phân lập
- Xử lý mẫu: Mẫu lá và hạt sau khi thu thập được rửa sạch, làm khô ở nhiệt độ 40°C, sau đó xay nhỏ trước khi ngâm chiết.
- Chiết phân đoạn: Mẫu lá được chiết ngâm với dung môi methanol ở nhiệt độ phòng, cô thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được cao tổng methanol (316 g). Cao tổng được phân tán trong 1 lít nước cất rồi tiến hành chiết phân bố lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: hexane (1 L × 5), ethyl acetate (1 L × 5), n-butanol (1 L × 5) để thu được các phân đoạn cao tương ứng: cao hexane (31 g), cao ethyl acetate (82 g), cao n-butanol (47 g) và cao dịch nước (52 g).
- Kỹ thuật sắc ký:
- Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng tráng sẵn silica gel Merck 60 F254 độ dày 0,2 mm. Phát hiện vết chất bằng đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm và 365 nm, thuốc thử hơi iod hoặc dung dịch H2SO4 10% trong cồn kèm sấy nhiệt ở 110°C.
- Sắc ký cột thường (CC): Sử dụng pha tĩnh là silica gel cỡ hạt 0,063 ÷ 0,200 mm và 0,040 ÷ 0,063 mm (Merck), kết hợp sắc ký cột pha đảo RP-18 và sắc ký cột nhanh (FC). Kích thước cột sử dụng đa dạng tùy lượng mẫu (từ đường kính 1,5 cm đến 10 cm, chiều dài từ 50 cm đến 150 cm).
- Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và phương pháp kết tinh phân đoạn dựa trên độ tan khác biệt của các hợp chất trong hệ dung môi đơn hoặc đa cấu tử.
Phương pháp khảo sát và xác định cấu trúc
- Điểm nóng chảy (Mp): Đo trên thiết bị Kofler micro-hotstage tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
- Độ quay cực ([α]D): Đo trên máy phân cực kế JASCO DIP-1000 KUY polarimeter tại Viện Hóa sinh biển, tính theo công thức độ quay cực riêng với bề dày mẫu và nồng độ xác định.
- Phổ khối lượng (MS): Ghi phổ khối lượng va chạm electron (EI-MS), phổ khối lượng phun mù electron (ESI-MS) và phổ khối lượng phân giải cao (HR-ESI-MS) trên các máy Bruker Daltonics APEX II 30eV spectrometer (tại Đại học Y Trung Quốc, Đài Loan) và micrOTOF-QII 10187 (tại Phòng Phân tích Trung tâm, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh).
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR): Đo trên máy Bruker Avance 500 MHz (chuẩn nội Tetramethylsilane - TMS) tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Sử dụng các kỹ thuật phổ 1D-NMR (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT) và 2D-NMR (COSY, HSQC, HMBC, NOESY). Dung môi pha mẫu gồm CDCl3, CD3OD và DMSO-d6.
Phương pháp thử hoạt tính sinh học
- Nuôi cấy tế bào: Dòng tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 (BCRC 60001) được cung cấp bởi Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn tài nguyên sinh học (BCRC), Viện nghiên cứu và phát triển công nghiệp thực phẩm (Tân Trúc, Đài Loan). Tế bào được nuôi trong môi trường DMEM có bổ sung 10% huyết thanh bào thai bò (FBS) trong tủ ấm 5% CO2 ở 37°C.
- Thử nghiệm độc tế bào (MTT): Đánh giá tỷ lệ sống của tế bào sau 24 giờ ủ cùng mẫu thử và lipopolysaccharide (LPS 100 ng/mL hoặc 100 mg/mL theo quy trình) bằng phản ứng khử muối tetrazolium (MTT 0,5 mg/mL), đo độ hấp thụ quang tại bước sóng λ = 750 nm trên đầu đọc microplate.
- Xác định sự sản sinh Nitric Oxide (NO): Định lượng gián tiếp nồng độ ion nitrite trong môi trường nuôi cấy thông qua phản ứng đo màu Griess (hỗn hợp gồm 1% sulfanilamide, 0,1% naphthylethylenediamine dihydrochloride và 5% H3PO4). Mật độ quang được đo tại bước sóng λ = 540 nm bằng đầu đọc Micro-Reader tại Đại học Chang Gung, Đài Loan; xây dựng đường chuẩn bằng NaNO2.
- Xử lý thống kê: Số liệu thực nghiệm tính theo giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (SD) từ ba lần lặp lại độc lập. Giá trị IC50 được tính toán bằng thuật toán hồi quy phi tuyến tính sử dụng phần mềm SigmaPlot 8.0, mức ý nghĩa thống kê quy ước là p < 0,05.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng dung lượng 149 trang, bao gồm 34 bảng số liệu, 22 hình vẽ đồ thị và 5 sơ đồ quy trình, trích dẫn 189 tài liệu tham khảo, cùng phần phụ lục chứa 134 phổ phân tích. Cấu trúc nội dung được triển khai qua các chương:
Mở đầu
Trình bày cơ sở khoa học, tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, đối tượng nghiên cứu là lá và hạt cây bình bát (Annona reticulata L.) ở Việt Nam, tóm tắt các phương pháp tiếp cận và nêu rõ các đóng góp mới của công trình.
Chương 1: Tổng quan
Nội dung chương này tổng thuật toàn diện về thực vật học họ Na và chi Annona, phân loại hình thái lá, hoa, quả, hạt và kiểu nhị (Uvarioid và Miliusoid). Điểm luận chi tiết các nhóm thành phần hóa học đã được phân lập từ các loài trong chi gồm diterpenoid khung kauran, các phân nhóm alkaloid isoquinoline và non-isoquinoline, các phân nhóm lignan (furofuran, coumarinolignan, dinorlignan, cyclolignan, neolignan), các kiểu khung acetogenin (A, B, C, D, E), flavonoid, cyclopeptide và chuỗi amin béo. Đồng thời, chương 1 trình bày dữ liệu thành phần dinh dưỡng quả bình bát (Bảng 1.9), lịch sử di thực, các bài thuốc y học cổ truyền và các báo cáo dược lý hiện đại về tác dụng chống co thắt, kháng viêm, điều hòa nhịp tim và gây độc tế bào ung thư.
| Thành phần trong quả bình bát |
Hàm lượng ghi nhận |
Thành phần trong quả bình bát |
Hàm lượng ghi nhận |
| Nước |
73,0 - 78,6 g |
Phốt pho |
26 mg |
| Protein |
1,8 - 19,0 g |
Sắt |
1,0 mg |
| Lipid |
0,2 - 0,5 g |
Vitamin A |
Vết |
| Carbohydrat |
18,7 g |
Vitamin B1 |
0,07 mg |
| Chất xơ |
2,2 - 2,9 g |
Vitamin B12 |
0,12 mg |
| Tro |
0,8 - 1,1 g |
Vitamin B5 |
0,7 mg |
| Năng lượng |
75 calo |
Vitamin C |
30 mg |
| Canxi |
24 mg |
Tannin |
0 mg |
Chương 2: Phương pháp và thực nghiệm
Mô tả chi tiết nguồn gốc mẫu thu hái tại Tiền Giang, thông số kỹ thuật của các thiết bị phân tích vật lý và đo phổ. Trình bày chi tiết năm sơ đồ thực nghiệm chiết xuất và phân lập từ lá và hạt:
- Chiết tách từ cao hexane lá bình bát (31 g): Sắc ký cột silica gel với hệ dung môi rửa giải hexane - acetone tỷ lệ phân cực tăng dần thu được 14 phân đoạn (ARLH-1 đến ARLH-14), từ đó phân lập được 7 hợp chất sạch:
- Phân đoạn ARLH-1 (hexane/acetone 25:1): thu nhận ARLH2 (968 mg).
- Phân đoạn ARLH-2 (hexane/acetone 15:1): thu nhận ARLH3 (78 mg).
- Phân đoạn ARLH-3 (hexane/acetone 15:1 và 9:1): thu nhận ARLH4 (302 mg).
- Phân đoạn ARLH-4 (hexane/acetone 15:1): thu nhận ARLH5 (26 mg).
- Phân đoạn ARLH-5 (hexane/acetone 9:1): thu nhận ARLH6 (31 mg).
- Phân đoạn ARLH-6 (hexane/acetone 7:1): thu nhận ARLH7 (22 mg).
- Phân đoạn ARLH-9 (hexane/acetone 7:1 và 5:1): thu nhận ARLH1 (789 mg).
- Chiết tách từ cao ethyl acetate lá bình bát (82 g): Sắc ký cột silica gel rửa giải hệ chloroform - methanol (20:1 đến 5:1) tạo 8 phân đoạn (ARLE-1 đến ARLE-8), tinh chế thu được 5 hợp chất:
- Phân đoạn ARLE-1 (hexane/acetone 9:1): thu nhận ARLE1 (38 mg).
- Phân đoạn ARLE-2-2 (hexane/acetone 8:1): thu nhận ARLE3 (14,3 mg).
- Phân đoạn ARLE-3-2 (hexane/acetone 6:1): thu nhận ARLE4 (17,4 mg).
- Phân đoạn ARLE-3-3 (hexane/acetone 4:1): thu nhận ARLE5 (21,4 mg).
- Phân đoạn ARLE-6 (chloroform/methanol 9:1 và 5:1): thu nhận ARLE2 (23 mg).
- Chiết tách từ hạt bình bát: Phân lập từ phân đoạn dịch chiết ethyl acetate thu nhận 10 hợp chất ký hiệu từ ARSE1 đến ARSE10.
- Trình bày hằng số vật lý (điểm nóng chảy, năng suất quay cực), số liệu phổ MS, 1D và 2D NMR của từng chất, cùng quy trình chuẩn bị mẫu và đo lường ức chế NO trên tế bào RAW 264.7.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương này dành 71 trang tập trung giải trình chi tiết quá trình quy kết dữ liệu phổ (1H, 13C, DEPT, COSY, HSQC, HMBC, NOESY, HR-ESI-MS) để xác định công thức phân tử và cấu trúc lập thể của 22 hợp chất phân lập được:
- Biện luận cấu trúc hợp chất mới annonaretin A (ARLH1 / ARLE1) cùng các triterpenoid, diterpenoid kauran, flavonoid và sterol từ lá.
- Biện luận cấu trúc hai hợp chất acetogenin (uvarigrandin A, cis-reticulatacin-10-one), amin béo N-(triacontanoyl)tryptamin, hai dẫn xuất triterpenoid (acid rotundic, pedunculoside), sterol và ba dẫn xuất benzene từ hạt.
- Trình bày kết quả đánh giá hoạt tính sinh học: Khảo sát khả năng ức chế sản sinh NO trên tế bào RAW 264.7 được kích thích bởi LPS của các hợp chất phân lập từ lá bình bát.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã phân lập và xác định cấu trúc hóa học của tổng cộng 22 hợp chất tinh khiết từ lá và hạt cây bình bát (Annona reticulata L.) ở Việt Nam, bao gồm nhiều phát hiện mới về mặt cấu trúc và phân loại hóa học thực vật:
| STT |
Ký hiệu mẫu |
Tên hợp chất |
Phân loại cấu trúc |
Bộ phận phân lập |
Ghi nhận đóng góp mới |
| 1 |
ARLH1 |
Annonaretin A |
Triterpenoid |
Lá |
Hợp chất mới phát hiện |
| 2 |
ARLH2 |
Ent-kaur-16-en-19-oic acid (kaurenoic acid) |
Diterpenoid kauran |
Lá |
Lần đầu phân lập từ cây |
| 3 |
ARLH3 |
Taraxerol |
Triterpenoid |
Lá |
Lần đầu phân lập từ lá cây này |
| 4 |
ARLH4 |
β-Sitosterol |
Sterol |
Lá |
Hợp chất đã biết |
| 5 |
ARLH5 |
16α-Hydro-19-al-ent-kauran-17-oic acid |
Diterpenoid kauran |
Lá |
Lần đầu phân lập từ cây |
| 6 |
ARLH6 |
6β-Hydroxystigmast-4-en-3-one |
Sterol |
Lá |
Lần đầu phân lập từ chi Annona |
| 7 |
ARLH7 |
16β-Hydroxy-17-acetoxy-ent-kauran-19-oic acid |
Diterpenoid kauran |
Lá |
Lần đầu phân lập từ cây |
| 8 |
ARLE1 |
16α-Hydro-ent-kauran-17,19-dioic acid |
Diterpenoid kauran |
Lá |
Lần đầu phân lập từ cây |
| 9 |
ARLE2 |
(2S)-di-O-methylquiritigenin |
Flavonoid |
Lá |
Lần đầu phân lập từ chi Annona |
| 10 |
ARLE3 |
Taraxasterol |
Triterpenoid |
Lá |
Lần đầu phân lập từ lá cây này |
| 11 |
ARLE4 |
Uvaol |
Triterpenoid |
Lá |
Lần đầu phân lập từ lá cây này |
| 12 |
ARLE5 |
Rutin |
Flavonoid glycoside |
Lá |
Hợp chất đã biết |
| 13 |
ARSE1 |
Uvarigrandin A |
Acetogenin |
Hạt |
Lần đầu phân lập từ cây |
| 14 |
ARSE2 |
Cis-reticulatacin-10-one |
Acetogenin |
Hạt |
Lần đầu phân lập từ cây |
| 15 |
ARSE3 |
N-(Triacontanoyl)tryptamin |
Amin béo |
Hạt |
Hợp chất đã biết |
| 16 |
ARSE4 |
Acid rotundic (rotundic acid) |
Triterpenoid |
Hạt |
Lần đầu phân lập từ chi Annona |
| 17 |
ARSE5 |
Pedunculoside |
Triterpenoid saponin |
Hạt |
Lần đầu phân lập từ chi Annona |
| 18 |
ARSE6 |
β-Sitosterol |
Sterol |
Hạt |
Hợp chất đã biết |
| 19 |
ARSE7 |
β-Sitosteryl-3-O-β-D-glucopyranoside |
Sterol glycoside |
Hạt |
Hợp chất đã biết |
| 20 |
ARSE8 |
Sinapaldehyde glucoside |
Dẫn xuất benzen |
Hạt |
Lần đầu phân lập từ chi Annona |
| 21 |
ARSE9 |
Eleutheroside B |
Dẫn xuất benzen |
Hạt |
Lần đầu phân lập từ chi Annona |
| 22 |
ARSE10 |
Acid vanilic (vanillic acid) |
Dẫn xuất benzen |
Hạt |
Hợp chất đã biết |
Về mặt thử nghiệm hoạt tính sinh học, luận án cung cấp dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về tác động ức chế sản sinh NO trên dòng tế bào đại thực bào RAW 264.7 của các hợp chất phân lập từ lá bình bát:
- Sáu hợp chất diterpenoid, triterpenoid và sterol gồm ARLH2, ARLH3, ARLH5, ARLH6, ARLH7 và ARLE1 thể hiện khả năng ức chế sự tạo thành NO với khoảng giá trị IC50 dao động từ 48,6 ± 1,2 μM đến 99,8 ± 0,4 μM.
- Hợp chất ARLH5 (16α-hydro-19-al-ent-kauran-17-oic acid) thể hiện hoạt tính ức chế mạnh nhất với giá trị IC50 đạt 48,6 ± 1,2 μM.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ trên các nội dung được trình bày trong luận án, một số giới hạn phạm vi và định hướng nghiên cứu tiếp nối bao gồm:
- Phạm vi đối tượng thực vật: Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích mẫu lá và hạt thu thập tại một vùng địa lý (tỉnh Tiền Giang) vào hai thời điểm (tháng 3/2010 và tháng 11/2011). Chưa mở rộng khảo sát trên các bộ phận khác của cây như vỏ thân, vỏ rễ, hoa hoặc so sánh sự biến động hàm lượng hoạt chất theo các điều kiện thổ nhưỡng, mùa vụ khác nhau tại Việt Nam.
- Phạm vi thử nghiệm hoạt tính sinh học: Tác dụng ức chế sản sinh NO mới được thực hiện in vitro trên dòng tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 đối với một số chất chọn lọc từ lá; chưa tiến hành khảo sát hoạt tính này đối với các hợp chất phân lập từ hạt (như các acetogenin, dẫn xuất phenylpropanoid) cũng như chưa mở rộng sang các thử nghiệm in vivo hoặc thăm dò cơ chế phân tử sâu hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Dược học và Hóa dược: Cung cấp quy trình chiết xuất, tách phân đoạn bằng các hệ dung môi sắc ký tối ưu, cùng bộ dữ liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1D, 2D NMR) và khối phổ phân giải cao (HR-ESI-MS) chi tiết của các khung kauran diterpenoid, triterpenoid và acetogenin phục vụ công tác tra cứu, đối chiếu cấu trúc.
- Các nhà nghiên cứu phát triển dược liệu và sản phẩm tự nhiên: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thành phần hóa học và tác dụng kháng viêm (thông qua ức chế NO) của lá và hạt bình bát, tạo cơ sở khoa học định hướng cho việc khai thác và gia tăng giá trị ứng dụng của nguồn thực vật tự nhiên tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã phát hiện ra hợp chất mới nào và cấu trúc thuộc nhóm chất gì?
Luận án đã phát hiện một hợp chất mới đặt tên là annonaretin A (ký hiệu mẫu ARLH1), có cấu trúc hóa học thuộc nhóm triterpenoid, được phân lập từ phân đoạn cao hexane của lá cây bình bát.
2. Có bao nhiêu hợp chất lần đầu tiên được ghi nhận phân lập từ chi Annona trong luận án này?
Có 5 hợp chất lần đầu tiên được ghi nhận phân lập từ chi Annona, bao gồm:
- 6β-Hydroxystigmast-4-en-3-one (ARLH6 - từ lá);
- (2S)-di-O-methylquiritigenin (ARLE2 - từ lá);
- Acid rotundic (ARSE4 - từ hạt);
- Pedunculoside (ARSE5 - từ hạt);
- Sinapaldehyde glucoside (ARSE8 - từ hạt) và Eleutheroside B (ARSE9 - từ hạt).
3. Khối lượng cao tổng ban đầu từ lá bình bát là bao nhiêu và phân bố ra các phân đoạn cao như thế nào?
Dịch chiết ngâm methanol từ lá bình bát sau khi cất thu hồi dung môi thu được 316 g cao tổng methanol. Sau khi phân tán vào nước và chiết phân bố lần lượt với các dung môi, luận án thu được 31 g cao hexane, 82 g cao ethyl acetate, 47 g cao n-butanol và 52 g cao phần dịch nước còn lại.
4. Hợp chất nào thể hiện hoạt tính ức chế sản sinh NO mạnh nhất trong các thử nghiệm của luận án?
Hợp chất thể hiện hoạt tính ức chế sự sản sinh NO mạnh nhất trên dòng tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 là hợp chất diterpenoid 16α-hydro-19-al-ent-kauran-17-oic acid (ký hiệu ARLH5), với giá trị IC50 đạt 48,6 ± 1,2 μM.
5. Mẫu thực vật sử dụng trong luận án được thu hái ở đâu và tiêu bản được lưu giữ tại cơ quan nào?
Mẫu lá và hạt cây bình bát được thu hái tại tỉnh Tiền Giang vào tháng 3/2010 và tháng 11/2011, do PGS. Trần Huy Thái (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) định danh khoa học; mẫu tiêu bản Viet-TSWu-20101015 được lưu giữ tại Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Huy Hùng đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của lá và hạt cây bình bát (Annona reticulata L.) thu hái tại Tiền Giang, Việt Nam. Công trình đã phân lập và xác định cấu trúc 22 hợp chất sạch (12 hợp chất từ lá và 10 hợp chất từ hạt), trong đó phát hiện 1 hợp chất triterpenoid mới (annonaretin A), 5 hợp chất lần đầu phân lập từ chi Annona và nhiều hợp chất lần đầu ghi nhận từ loài này. Kết quả thử nghiệm sinh học cho thấy các hợp chất diterpenoid kauran và sterol từ lá có khả năng ức chế sự sản sinh NO trên dòng tế bào đại thực bào RAW 264.7, với hoạt tính mạnh nhất thuộc về hợp chất 16α-hydro-19-al-ent-kauran-17-oic acid (IC50 = 48,6 ± 1,2 μM).