ĐẶT VẤN ĐỀ Theo dữ liệu năm 2015 của Trung tâm thông tin công nghệ sinh học Mỹ, Tổ chức y tế thế giới (WHO) khoảng 60% dân số thế giới dùng thuốc thảo dược và khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển dùng thuốc thảo dược và các biện pháp chữa bệnh y học cổ truyền khác để chăm sóc sức khỏe [37]. Xu hướng sử dụng y học cổ truyền trong hỗ trợ và điều trị bệnh thúc đẩy các nhà khoa học tiến hành nhiều nghiên cứu trên các loại dược liệu và hợp chất tự nhiên với các hoạt tính sinh học tiềm năng khác nhau. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có nguồn dược liệu vô cùng phong phú và đa dạng, cùng với kinh nghiệm sử dụng các thuốc y học cổ truyền. Đây là kho tàng giúp phát triển nghiên cứu tạo ra các sản phẩm từ thiên nhiên phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế.
Một trong những loài dược liệu quý ở Việt Nam đã được biết đến là Kỳ nam kiến (Hydnophytum formicarum Jack.), một loài thuộc nhóm cây “Tổ kiến” (ant-plants), họ Cà phê (Rubiaceae) được sử dụng trong dân gian để chữa bệnh gan: viêm gan, vàng da, ăn uống khó tiêu [2], [10]. Bên cạnh đó, Kỳ nam gai cũng được sử dụng trong dân gian tương tự như Kỳ nam kiến. Người đồng bào dân tộc M’Nông dùng Kỳ nam gai trị bệnh gan, vàng da, đau nhức gân xương, làm tan vết bầm tím và dùng cho phụ nữ sau sinh [14]. Bên trong phần thân phình thành củ của cả 2 loài có hình thái tương tự nhau và đều có đặc điểm chung là nơi kiến làm tổ, tuy nhiên khi sấy khô thì hình dạng của chúng rất giống nhau và khó phân biệt.
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào so sánh về hai loài này để chứng minh được việc sử dụng giống nhau là phù hợp. Một số nghiên cứu bước đầu cho thấy Kỳ nam kiến có các thành phần polyphenol, có tác dụng chống oxy hóa in vitro [45], nhưng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá tác dụng này của Kỳ nam gai. Để đánh giá tác dụng chống oxy hóa này, dung lượng là thước đo số lượng gốc tự do nhất định được dọn bởi một mẫu, vì thế đánh giá tác dụng này dựa trên khả năng dọn gốc tự do được sử dụng trong bước đầu nghiên cứu. Với mong muốn phân biệt hai dược liệu này, đồng thời đánh giá, so sánh tác dụng chống oxy hóa của 2 loài Kỳ nam kiến và Kỳ nam gai, đề tài: “Phân biệt và đánh giá tác dụng dọn gốc tự do in vitro của hai loài Kỳ nam kiến và Kỳ nam gai” được thực hiện với 2 mục tiêu sau: 1.
Phân biệt hai loài Kỳ nam kiến và Kỳ nam gai dựa trên đặc điểm hình thái, đặc điểm dược liệu và thành phần hóa học. Đánh giá tác dụng dọn gốc tự do in vitro của phần thân củ phình to của 2 loài Kỳ nam kiến và Kỳ nam gai. Các loài thuộc hai chi Hydnophytum và chi Myrmecodia trong họ Cà phê 1. Phân bố của hai chi Hydnophytum và chi Myrmecodia Trong họ Cà phê có năm chi có thân củ, sống cộng sinh với kiến là: Anthorrhiza, Hydnophytum, Myrmecodia, Myrmephytum và Squamellaria (Huxley & Jebb, 1991).
Các chi này được tìm thấy ở Đông Nam Á đến các đảo thuộc Thái Bình Dương như đảo Fiji, Vanuatu và quần đảo Solomon, với sự đa dạng cao nhất ở New Guinea [16]. Hydnophytum là chi có sự phân bố rộng nhất, kéo dài từ quần đảo Andaman, Nam Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, trên toàn bộ quần đảo Indonesia, Philippines, Papuasia và các đảo liên quan, quần đảo Solomon, Vanuatu, Fiji và bán đảo Cape York ở Úc (Huxley & Jebb, 1991). Chi Hydnophytum bao gồm 55 loài, trong đó 44 loài được tìm thấy ở New Guinea [41]. Hydnophytum có nghĩa là “cây nấm cục” và có tính đa hình hơn nhiều so với các loài trong chi Myrmecodia nên có thể tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt [16], [35].
Myrmecodia là chi có phân bố rộng thứ hai, với các loài được tìm thấy ở Malaysia, trên toàn bộ quần đảo Indonesia, Philippines, Papuasia và các đảo liên quan, quần đảo Solomon và bán đảo Cape York ở Úc (Huxley & Jebb, 1993). Myrmecodia có nghĩa là “ nhà kiến”, vì củ của chúng chuyên biệt hơn nhiều và thích nghi với lối sống của kiến hơn so với chi Hydnophytum [16]. Các loài trong chi Hydnophytum và Myrmecodia thường liên quan đến các loài kiến Iridomyrmex, nhưng ở mức độ thấp hơn, các loài kiến khác thuộc các chi Anaplolepis, Camponotus, Crematogaster, Pedomyrma, Pheidole, Polyrachis, Monomorium, Technomyrex, Turneria và Vollenhovia cũng được tìm thấy. Các sinh vật khác được tìm thấy trong cây tổ kiến bao gồm tuyến trùng thuộc giống Rhabditis, bọ ve, ấu trùng dipteran và bọ cánh cứng brethid nhỏ gặp trên các mảnh vụn trong hốc cây.
Hai loài nấm, như Arthrocladium thường được tìm thấy trong các bề mặt khoang của chi Myrmecodia và chỉ được tìm thấy một lần ở Hydnophytum formicarum Jack [16]. Những loài cây này có thân thay đổi cung cấp môi trường sống, chất dinh dưỡng cho kiến; đổi lại, kiến cung cấp chất dinh dưỡng cho cây bằng cách để lại chất thải trong các đường hầm bên trong tổ. Sự cộng sinh này cũng cho phép cây lấy các chất dinh dưỡng hiệu quả từ một diện tích lớn hơn nhiều so với từ rễ cây [16]. 3 Tuy nhiên, các loài của hai chi Hydnophytum và Myrmecodia đều tự thụ phấn.
Những con kiến mang hạt của cây ra khỏi cây mẹ và để chúng trong đường hầm của kiến dọc theo vỏ cây, nơi chúng sau này nảy mầm thành cây mới [16]. Đặc điểm thực vật của 2 chi Hydnophytum và Myrmecodia - Củ: Ở chi Hydnophytum củ thường rộng, có thùy ở gốc, củ nhẵn, chiều ngang 10 - 55 cm với nhiều đường hẫm và các lỗ hang cho kiến trú ngụ; còn ở Myrmecodia củ thường có hình trụ và không chia thùy [22]. - Thân cây: Thân cây của Hydnophytum không có bề ngoài bất thường và một số loài thì thân cây mọc lên từ một củ, trong khi ở Myrmecodia thì thân củ có nhiều biến đổi [22]. - Gai: Ở chi Hydnophytum thường không có gai ở thân củ nhưng ở chi Myrmecodia thì gai thường đa dạng về hình dạng và kích thước [22].
- Lá: Lá của các loài chi Hydnophytum thường khá nhỏ và đa dạng; phiến lá không cuống, hình elip dài tới 4 - 10 cm. Nhưng ở chi Myrmecodia thường lá rộng và mỏng, phiến lá từ hình elip đến hình mác, dài tới 7 - 25 cm, rộng 4 - 11cm tùy theo môi trường, có 10 - 15 gân bên [22]. - Cụm hoa: Ở Hydnophytum, cụm hoa mọc thành chùm hoặc không cuống, ở Myrmecodia, hoa không cuống bị trũng trong mô ở đáy hốc. Cả hai chi, hoa có thể bị phụ thuộc ít nhiều bởi các lá bắc có lông, hình vảy [22].
- Hoa: Tràng hoa ở cả hai chi có hình ống và có bốn thùy ở đầu, hoa thường có màu trắng và khá nhỏ. Trong chi Hydnophytum, miệng ống được lấp đầy bởi một vòng lông, bao phấn và đầu nhụy. Còn ở hầu hết các loài trong chi Myrmecodia, miệng ống được đóng bởi bốn móc hướng vào trong, một vòng long, bao phấn và đầu nhụy được bao bọc trong ống [22]. - Quả: Quả của hai chi đều là quả mọng, có hai hoặc bốn hạt trong chi Hydnophytum và có một đến mười hạt ở chi Myrmecodia.
Hạt phân tán do chim hoặc kiến [22]. Tổng quan về Kỳ nam kiến 1. Tên khoa học Hydnophytum formicarum Jack [1], [3], [9]. Tên khác Bí kỳ nam, ổ kiến [3].
Mô tả Kỳ nam kiến có thân nhỏ, sống phụ sinh bám trên cành cây gỗ cao. Thân phình thành củ lớn, đường kính có thể đến 30 cm, mặt ngoài sần sùi, màu nâu xám, bên trong có những lỗ hổng chằng chịt do kiến sống cộng sinh hình thành nhiều lỗ như tổ ong. Từ thân củ mọc ra những rễ nhỏ phía dưới và một vài cành mang lá ở phía trên. Cành ngắn mập, màu nâu.
Lá mọc đối, phiến dày, dai, mép nguyên, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt có màu lục nhạt, mặt trên nhẵn bóng, hình bầu dục hoặc hình trái xoan dài 6 - 10 cm, rộng 2,5 - 6 cm, gân bên 8 - 10 đôi, lá kèm rụng sớm. Hoa không cuống, tập hợp 4 - 5 hoa ở nách lá, màu trắng, đài có ống hình trụ - trứng, cụt ở đầu; tràng 4 cánh thuôn nhọn, dài bằng nửa ống tràng, có 4 túm lông ở họng, nhị 4, đính ở đáy ống tràng, chỉ nhị rất ngắn, bầu 2 ô, đầu nhị xẻ đôi. Quả hạch nhỏ, hình thuôn, khi chín màu da cam hay đỏ, bóng, chứa hai hạt, dài 2-5mm. Ra hoa tháng 12-1 ( năm sau), có quả tháng 1-3.
Tái sinh bằng hạt [1], [2], [9], [10], [16]. Phân bố, sinh thái Kỳ nam kiến thường sống bám (phụ sinh) trên các loại cây gỗ thuộc họ Dipterocarpaceae, Combretaceae, Fabaceae,… trong các rừng nhiệt đới ẩm, đôi khi thấy ở cả kiểu rừng thưa, ở độ cao trên 700m [1], [2], [9], [10], [16]. Loài Hydnophytum formicarum Jack, có thể được tìm thấy ở khắp Đông Nam Á, khu vực Thái Bình Dương, quần đảo Melanesian và vùng cực bắc Australia (Huxley & Jebb, 1991). Ở Châu Á, cây phân bố chủ yếu ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc và một số quốc gia khác [1], [2], [10], [16].
Ở Việt Nam, Kỳ nam kiến phân bố rải rác ở tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, ở Phú Quốc - Kiên Giang [1], [2], [10], [16]. Bộ phận dùng Phần thân phình thành củ, thu hoạch vào mùa khô, để nguyên củ hoặc thái mỏng phơi khô [1], [2], [9], [10]. Công dụng Theo kinh nghiệm dân gian, Kỳ nam kiến được dùng chữa các bệnh về gan, thận, ăn uống kém, da vàng xám, mệt mỏi, uể oải. Ngày dùng 10-16 gram dưới dạng thuốc sắc.
Một số vùng dùng ngâm rượu [2], [10]. Thành phần hóa học a. Nhóm chất vô cơ Nghiên cứu của nhóm tác giả Prachayasittikul (2012) cho thấy dựa trên kết quả phổ phát xạ nguyên tử plasma cao tần cảm ứng, trong cao n-hexan, cao ethanol, cao methanol của toàn cây Kỳ nam kiến có chứa 22 nguyên tố kim loại, trong đó 6 nguyên tố thiết yếu (Mn, Fe, Ca, Zn, Cr và P) có trong cao n-hexan với nồng độ ở mức ppm. Nguyên tố trị liệu Li có trong cao cloroform.
Một số kim loại nặng như Hg, Pb, Cd được tìm thấy trong cao cloroform. Đặc biệt các nguyên tố rất quan trọng cho cơ thể K, Ca, Mg, Fe, Zn cũng được tìm thấy trong Kỳ nam kiến [45].