Tổng quan luận án
Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên phạm vi toàn cầu, với ước tính từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khoảng 17 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó phần lớn bắt nguồn từ cơ chế xơ vữa động mạch. Hội chứng rối loạn lipid máu (RLLPM) là một trong những yếu tố nguy cơ giữ vai trò trung tâm đối với sự hình thành, tiến triển của tổn thương xơ vữa động mạch và các biến cố tim mạch liên quan. Y học hiện đại đã ứng dụng nhiều nhóm thuốc hạ lipid máu như statin (fluvastatin, lovastatin, pravastatin, atorvastatin), fibrat (bezafibrat, fenofibrat, gemfibrozil), chất gắn acid mật, ezetimibe hay kháng thể đơn dòng ức chế PCSK9. Mặc dù đạt hiệu lực kiểm soát các chỉ số lipid huyết tương, việc sử dụng các thuốc tổng hợp này có thể gặp một số tác dụng không mong muốn như rối loạn tiêu hóa, tăng men gan, đau cơ, tiêu cơ vân, cùng với chi phí điều trị kéo dài. Do đó, xu hướng nghiên cứu và phát triển các chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên, an toàn, sẵn có từ nguồn dược liệu trong nước nhằm hỗ trợ và điều trị rối loạn lipid máu đang nhận được sự quan tâm rộng rãi.
Theo lý luận Y học cổ truyền (YHCT), hội chứng rối loạn lipid máu có nhiều điểm tương đồng với chứng "đàm thấp", "đàm ẩm", "huyết ứ", phát sinh chủ yếu do rối loạn chức năng vận hóa tân dịch của tỳ vị, kết hợp với suy giảm công năng của các tạng can, thận, phế. Bài thuốc cổ phương "Đại an hoàn" gồm các vị thuốc như Sơn tra, Trần bì, Bán hạ, Bạch linh, Thần khúc có công năng kiện tỳ tiêu thực, tiêu tích trệ và hóa trừ đàm thấp. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào đánh giá một cách toàn diện tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu của bài thuốc Đại an hoàn dưới dạng bào chế cao lỏng trên cả mô hình động vật thực nghiệm lẫn trên bệnh nhân lâm sàng.
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Tạ Thu Thủy (ngành Y học cổ truyền, mã số 62720201, thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội, bảo vệ năm 2016 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Quốc Bình và PGS.TS. Nguyễn Trần Thị Giáng Hương) được tiến hành nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu trên với 2 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu của cao lỏng Đại an trên động vật thực nghiệm.
- Đánh giá hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn của cao lỏng Đại an trên bệnh nhân rối loạn lipid máu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng thực nghiệm: Chuột cống trắng và thỏ thực nghiệm được gây các mô hình rối loạn lipid máu nội sinh, ngoại sinh và mô hình xơ vữa động mạch. Địa điểm thực hiện tại Bộ môn Dược lý, Trường Đại học Y Hà Nội.
- Đối tượng lâm sàng: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định hội chứng rối loạn lipid máu theo tiêu chuẩn Y học hiện đại và phân loại thể bệnh theo Y học cổ truyền, điều trị nội trú hoặc ngoại trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương (Khoa Khám bệnh, Khoa Xét nghiệm và Trung tâm nghiên cứu và sản xuất thuốc Y học cổ truyền).
- Phạm vi thời gian: Theo dõi điều trị lâm sàng tại các mốc thời điểm ngày thứ 0 (D0 - trước điều trị), ngày thứ 30 (D30) và ngày thứ 60 (D60 - sau điều trị).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các quan điểm lý luận YHCT, cơ chế sinh học phân tử YHHĐ và các công trình nghiên cứu về dược liệu điều trị rối loạn lipid máu trong và ngoài nước:
Lý luận Y học cổ truyền về chứng đàm thấp và bệnh sinh rối loạn lipid máu
Văn bản cổ chỉ rõ nguồn gốc đàm thấp bắt nguồn từ sự rối loạn vận hóa tân dịch qua ba tạng tỳ, phế, thận, trong đó tỳ giữ vai trò then chốt. Sách Nội kinh gọi là "tích ẩm", sách Kim quỹ yếu lược gọi là "đàm thấp". Hải Thượng Lãn Ông nêu nguyên tắc: "Chữa đàm phải điều hòa khí trước và khí thuận thì đàm tự tiêu", "Trị đàm tiên trị khí, khí thuận đàm tự tiêu". Trương Cảnh Nhạc khẳng định: "Trăm bệnh đều do đàm sinh ra nên chữa bệnh quá bán là chữa đàm". Luận án viện dẫn phân loại 5 thể bệnh lâm sàng của đàm thấp theo tài liệu của Vương Giai và Hà Khánh Dũng trong sách Bệnh chứng kết hợp Trung y chứng hậu học:
- Đàm trọc ứ trệ (dùng Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm).
- Tỳ thận dương hư (dùng Lý trung hoàn hợp Tả quy hoàn gia giảm).
- Can thận âm hư (dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia giảm).
- Âm hư dương cang (dùng Nhất quán tiễn gia giảm).
- Khí trệ ứ lạc (dùng Huyết phủ trục ứ thang gia giảm).
Tình hình nghiên cứu thuốc YHCT trên thế giới
Nhiều vị thuốc độc vị và bài thuốc cổ phương đã được khảo sát thực nghiệm và lâm sàng:
- Quyết minh tử (Semen Cassia): chứa anthraquinone, giảm TG, TC, LDL-C trên chuột Sprague Dawley liều 25 mg/kg/ngày.
- Hoàng liên (Coptis chinensis): hoạt chất berberin, liều 500 mg/ngày x 12 tuần trên người hoặc 200 mg/kg/ngày x 16 tuần tiêm màng bụng trên chuột, làm giảm TC, TG, LDL-C, tăng HDL-C, tăng điều hòa PPARα, LDLR.
- Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphylla): hoạt chất gypenoside, liều 250 mg/kg x 4 ngày trên chuột nhắt làm giảm TG, TC, LDL-C.
- Hồng khúc (Red yeast rice): chứa monacolin, lovastatin, liều 600 mg/ngày x 8 tuần trên người làm giảm TG, TC, LDL-C qua ức chế HMG-CoA reductase.
- Đan sâm (Radix Salviae Miltiorrhizae): chứa tanshinone IIA, salvianolic acid, liều 150 mg/kg/ngày trên chuột hoặc 80 mg/ngày tiêm tĩnh mạch x 14 ngày trên người làm giảm TC, TG, LDL-C, tăng HDL-C.
- Khương hoàng (Curcuma longa - curcumin), Trạch tả (Rhizoma Alismatis - triterpene), Hà diệp (Folium Nelumbinis), Nhân sâm (Radix Ginseng - ginsenoside), Hà thủ ô (Radix Polygoni Multiflori - anthraquinone).
- Các bài thuốc Trung y: Quế tinh phương (giảm TC 58 mg%, TG 56 mg%), Giáng chỉ linh phương (giảm TC 82,44 mg%, TG 150,15 mg%), Thư tâm hoạt huyết phương (Thẩm Đạt Minh: giảm TC 39 mg%, TG 170 mg%), Trạch tả thang, Nhân trần hợp tễ, Đan sâm cát căn, Linh quế truật cam thang, Huyết phủ trục ứ thang.
Tình hình nghiên cứu thuốc YHCT tại Việt Nam
Tác giả điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu độc vị: Tỏi (Võ Hiền Hạnh và cs.), Nghệ vàng (Nguyễn Khang và cs.), Nấm linh chi (Nguyễn Thị Mai Anh và cs.).
- Nấm Hồng chi Đà Lạt (Ganoderma lucidum): Phạm Thị Bạch Yến (2009) nghiên cứu liều 4 g/kg/24h và 12 g/kg/24h trên chuột cống trắng gây tăng lipid máu thực nghiệm, cho thấy tác dụng hạ 4 chỉ số lipid máu tương đương nhau (p < 0,05 đến 0,001) và tương đương thuốc đối chứng Cholestyramin 1,6 g/kg/24h (p > 0,05).
- Chế phẩm Gylopsin (chè dây và giảo cổ lam): Nguyễn Thị Như Ái và cs. (2007) trên thỏ thực nghiệm, làm giảm TC, TG, LDL-C, MDA huyết tương, tăng HDL-C và giảm xơ vữa động mạch.
- Trà cây rau mương: Nguyễn Thị Sơn (2007) điều trị 42 bệnh nhân RLLPM trong 2 tháng làm giảm TC 12% và LDL-C 15%.
- Bột chiết lá dâu (Nguyễn Quang Trung và cs.), Monacholes (Nguyễn Phương Thanh và cs.), Viên nén Dogarlic trà xanh (Nguyễn Thị Bay, 2012).
- Cao lỏng Ngưu sâm trà: Nguyễn Thị Minh Thúy và cs. (2013) nghiên cứu trên mô hình RLLPM ngoại sinh; liều 3 g/kg làm giảm TC 65,22%, TG 86,10%, LDL-C 73,56%, tăng HDL-C 75%; liều 6 g/kg làm giảm TC 66,19%, TG 93,86%, LDL-C 74,24%, tăng HDL-C 83,93% so với lô chứng (p < 0,05).
| Tên công trình / Chế phẩm |
Tác giả và năm |
Thiết kế nghiên cứu |
Kết quả chính về các chỉ số lipid |
| Nấm Hồng chi Đà Lạt |
Phạm Thị Bạch Yến (2009) |
Thực nghiệm chuột cống trắng (liều 4 g/kg và 12 g/kg/24h) |
Hạn chế rối loạn cả 4 chỉ số lipid máu (p < 0,05-0,001), tương đương Cholestyramin 1,6 g/kg/24h |
| Gylopsin |
Nguyễn Thị Như Ái và cs. (2007) |
Thực nghiệm trên thỏ gây tăng lipid máu |
Giảm TC, TG, LDL-C, MDA huyết tương; tăng HDL-C; giảm mức độ xơ vữa động mạch |
| Trà cây rau mương |
Nguyễn Thị Sơn (2007) |
Lâm sàng trên 42 bệnh nhân RLLPM (2 tháng) |
Giảm TC 12%, giảm LDL-C 15% |
| Cao lỏng Ngưu sâm trà |
Nguyễn Thị Minh Thúy và cs. (2013) |
Thực nghiệm RLLPM ngoại sinh (liều 3 g/kg và 6 g/kg) |
Liều 3 g/kg: giảm TC 65,22%, giảm TG 86,10%, giảm LDL-C 73,56%, tăng HDL-C 75% |
Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án định vị nghiên cứu bài thuốc cổ phương "Đại an hoàn" dưới dạng cao lỏng Đại an - bài thuốc có cấu trúc kiện tỳ tiêu thực, trừ đàm hóa ứ - nhằm cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học thực nghiệm (trên 3 mô hình bệnh lý) và hiệu quả lâm sàng can thiệp trên người bệnh rối loạn lipid máu theo các tiêu chuẩn kết hợp YHHĐ và YHCT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân loại bệnh học
- Lý thuyết chuyển hóa Lipoprotein (YHHĐ):
- Con đường ngoại sinh: Hấp thu triglycerid và cholesterol từ thức ăn qua ruột non tạo Chylomicron (CM), thủy phân bởi Lipoprotein Lipase (LPL) tạo CM tàn dư giàu cholesterol thoái hóa ở gan.
- Con đường nội sinh: VLDL tổng hợp từ gan được LPL thủy phân thành IDL và LDL. LDL vận chuyển cholesterol đến mô ngoại vi qua thụ thể LDLR (nhận biết ApoB-100). Sự tích tụ và oxy hóa LDL tại thành mạch được đại thực bào bắt giữ tạo tế bào bọt (foam cell), khởi phát mảng xơ vữa.
- Vai trò của HDL: Thu gom cholesterol dư thừa từ mô ngoại vi chuyển về gan qua trung gian enzyme LCAT và protein vận chuyển CETP để đào thải qua đường mật.
- Tiêu chuẩn phân loại RLLPM:
- Fredrickson/WHO: 6 typ (I, IIa, IIb, III, IV, V).
- De Gennes: Tăng cholesterol thuần túy (IIa), Tăng triglycerid thuần túy (I, IV, V), Tăng lipid máu hỗn hợp (IIb, III).
- EAS: 5 týp (A, B, C, D, E).
- NCEP ATP III: Đánh giá phân tầng mức độ theo nồng độ mmol/L và mg/dL.
| Chỉ số lipid máu |
Bình thường / Tối ưu |
Giới hạn cao / Ranh giới |
Mức độ cao |
Mức độ rất cao |
| Cholesterol toàn phần (TC) |
< 5,17 mmol/L (< 200 mg/dL) |
5,17 – 6,18 mmol/L (200 – 239 mg/dL) |
≥ 6,20 mmol/L (≥ 240 mg/dL) |
- |
| LDL-Cholesterol (LDL-C) |
< 2,58 mmol/L (< 100 mg/dL) |
3,36 – 4,11 mmol/L (130 – 159 mg/dL) |
4,13 – 4,88 mmol/L (160 – 189 mg/dL) |
≥ 4,91 mmol/L (≥ 190 mg/dL) |
| Triglycerid (TG) |
< 1,70 mmol/L (< 150 mg/dL) |
1,70 – 2,25 mmol/L (150 – 199 mg/dL) |
2,26 – 5,64 mmol/L (200 – 499 mg/dL) |
≥ 5,65 mmol/L (≥ 500 mg/dL) |
| HDL-Cholesterol (HDL-C) |
≥ 1,55 mmol/L (≥ 60 mg/dL) [Mức cao] |
- |
< 1,03 mmol/L (< 40 mg/dL) [Mức thấp] |
- |
- Lý luận Y học cổ truyền:
- Cơ chế "Bản hư tiêu thực": "Bản" là tỳ thận khí hư, "tiêu" là đàm trọc, huyết ứ trở trệ kinh lạc. Phép trị chủ đạo là tiêu bản đồng trị: bổ tỳ ích thận kết hợp kiện tỳ táo thấp, hóa đàm tiêu thực tích.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Chất liệu thực nghiệm: Cao lỏng Đại an (bào chế từ bài thuốc Đại an hoàn gồm Sơn tra, Trần bì, Bán hạ, Bạch linh, Thần khúc...).
- Động vật thực nghiệm: Chuột cống trắng và thỏ.
- Thiết kế mô hình nghiên cứu:
- Mô hình RLLPM nội sinh: Gây tăng lipid máu cấp tính trên chuột bằng Poloxamer 407.
- Mô hình RLLPM ngoại sinh: Gây tăng lipid máu bằng chế độ ăn hỗn hợp dầu cholesterol trên chuột cống trắng; đánh giá các mốc 2 tuần và 4 tuần; theo dõi sự thay đổi trọng lượng.
- Mô hình gây xơ vữa động mạch trên thỏ (8 tuần): Chia thành 5 lô nghiên cứu:
- Lô chứng sinh học (chế độ ăn tiêu chuẩn).
- Lô mô hình (ăn giàu cholesterol gây tổn thương xơ vữa).
- Lô đối chứng dương: uống Atorvastatin.
- Lô uống cao lỏng Đại an liều 2,4 g/kg/ngày.
- Lô uống cao lỏng Đại an liều 4,8 g/kg/ngày.
- Chỉ tiêu theo dõi thực nghiệm: Nồng độ lipid máu (TC, TG, HDL-C, LDL-C), hoạt độ men gan AST, ALT, hình ảnh đại thể và vi thể động mạch chủ, vi thể mô gan thỏ.
Phương pháp nghiên cứu lâm sàng
- Thiết kế: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng mở, so sánh trước và sau điều trị tại các thời điểm D0, D30, D60.
- Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn lipid máu theo tiêu chuẩn YHHĐ, phân loại theo De Gennes, Fredrickson, EAS và phân loại thể bệnh theo YHCT (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư).
- Chỉ tiêu theo dõi:
- Chỉ số hóa sinh lipid: TC, TG, HDL-C, LDL-C, chỉ số vữa xơ TC/HDL-C và LDL-C/HDL-C.
- Triệu chứng YHCT: Đánh giá biến đổi triệu chứng cơ năng theo từng thể bệnh, biến đổi rêu lưỡi, mạch.
- Chỉ số lâm sàng thực thể: Cân nặng, chiều cao, chỉ số khối cơ thể (BMI), huyết áp động mạch (HATT, HATTr).
- Đánh giá an toàn và tác dụng không mong muốn: Tần số mạch, các xét nghiệm huyết học (Hb), hóa sinh máu (men gan AST, ALT) và các phản ứng phụ lâm sàng.
- Địa điểm và đạo đức nghiên cứu: Thực hiện tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương; quy trình nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, có hội đồng xét duyệt và kiểm soát sai số.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 trình bày chi tiết sinh lý bệnh học chuyển hóa lipid theo YHHĐ, cấu trúc lipoprotein, cơ chế xơ vữa động mạch từ tế bào bọt và các phân loại RLLPM chuẩn hóa (WHO/Fredrickson, De Gennes, EAS, NCEP ATP III). Chương này tổng quan các liệu pháp điều trị hiện đại từ thay đổi lối sống (hạn chế chất béo bão hòa < 7% calo, cholesterol < 200 mg/ngày, duy trì BMI 19-23) đến các nhóm thuốc tân dược (statin, fibrat, ezetimibe, niacin, resin, PUFAs, ức chế PCSK9). Tiếp đó, tác giả luận giải sâu sắc quan niệm YHCT về sự vận hóa tân dịch qua ngũ tạng - lục phủ, cơ chế sinh chứng đàm thấp ("bản hư tiêu thực"), các thể bệnh đàm thấp và phép trị tương ứng (thấp đàm, táo đàm, nhiệt đàm, hàn đàm, phong đàm), các phương pháp không dùng thuốc (thể châm, nhĩ châm, dưỡng sinh). Cuối cùng, chương 1 tổng thuật các nghiên cứu thuốc YHCT điều trị RLLPM trên thế giới và tại Việt Nam, phân tích thành phần dược liệu bài thuốc cổ phương Đại an hoàn và dạng bào chế cao lỏng Đại an.
Chương 2: Chất liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chất liệu cao lỏng Đại an và thiết kế nghiên cứu chi tiết:
- Nghiên cứu thực nghiệm: Quy trình gây mô hình nội sinh bằng Poloxamer 407, mô hình ngoại sinh bằng dầu cholesterol trên chuột cống trắng (theo dõi sau 2 tuần và 4 tuần), mô hình gây xơ vữa động mạch trên thỏ trong 8 tuần với các lô so sánh (chứng, mô hình, Atorvastatin, cao Đại an 2,4 g/kg và 4,8 g/kg). Quy trình lấy mẫu huyết thanh định lượng lipid máu, AST, ALT, kỹ thuật xử lý lát cắt mô bệnh học đại thể và vi thể động mạch chủ, gan thỏ.
- Nghiên cứu lâm sàng: Quy chuẩn chọn mẫu bệnh nhân RLLPM, tiêu chuẩn loại trừ, phân loại thể bệnh YHCT (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư). Phác đồ điều trị bằng cao lỏng Đại an, các mốc thu thập dữ liệu (D0, D30, D60), phương pháp đo nhân trắc BMI, đo huyết áp, đánh giá triệu chứng cơ năng YHCT, quy trình xét nghiệm cận lâm sàng và các phương pháp thống kê sinh học xử lý dữ liệu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu và phát hiện cụ thể:
- Kết quả thực nghiệm:
- Mô hình nội sinh (Poloxamer 407): Cao lỏng Đại an thể hiện tác dụng điều chỉnh rõ rệt nồng độ lipid máu thực nghiệm so với lô mô hình.
- Mô hình ngoại sinh: Làm giảm nồng độ lipid máu ở các mốc 2 tuần và 4 tuần, đồng thời điều hòa sự thay đổi cân nặng chuột cống trắng sau 4 tuần nghiên cứu.
- Mô hình xơ vữa động mạch thỏ (8 tuần): Cả hai mức liều cao lỏng Đại an 2,4 g/kg và 4,8 g/kg đều làm giảm nồng độ các chỉ số lipid máu gây xơ vữa, hạn chế tổn thương xơ vữa động mạch trên hình ảnh đại thể và vi thể động mạch chủ thỏ, giảm thoái hóa mỡ tế bào gan trên vi thể tương tự lô đối chứng Atorvastatin. Hoạt độ men gan AST, ALT trên thỏ không ghi nhận biến đổi độc tính.
- Kết quả lâm sàng:
- Đặc điểm bệnh nhân: Khảo sát phân bố theo nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt, BMI và huyết áp; phân loại RLLPM theo De Gennes, Fredrickson và EAS; phân loại thể bệnh YHCT ghi nhận thể Đàm trọc ứ trệ chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là Tỳ thận dương hư và Can thận âm hư.
- Biến đổi triệu chứng YHCT: Cải thiện rõ rệt các triệu chứng cơ năng (nặng đầu, tức ngực, mệt mỏi, nặng nề chi thể, ăn kém, phân nát, triệu chứng lưỡi và mạch) ở cả 3 nhóm thể bệnh tại mốc D30 và D60 so với trước điều trị D0.
- Biến đổi chỉ số lipid máu: Nồng độ TC, TG, LDL-C giảm có ý nghĩa thống kê sau điều trị (D30, D60) so với trước điều trị D0; nồng độ HDL-C được cải thiện hoặc duy trì ổn định; các chỉ số nguy cơ tim mạch TC/HDL-C và LDL-C/HDL-C giảm rõ rệt.
- Chỉ số thực thể: Cải thiện chỉ số BMI và huyết áp động mạch sau điều trị.
- Đánh giá an toàn: Tần số mạch ổn định; các chỉ số huyết học (Hb) và men gan AST, ALT không có sự biến đổi bất lợi; không xuất hiện các tác dụng phụ nghiêm trọng trên lâm sàng.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích sâu sắc các kết quả nghiên cứu:
- Lý giải sự lựa chọn bài thuốc cổ phương Đại an hoàn bào chế dạng cao lỏng: Sự phối ngũ của Sơn tra (tiêu thực tích, hóa ứ), Trần bì, Bán hạ, Bạch linh (kiện tỳ táo thấp, giáng nghịch hóa đàm) và Thần khúc (tiêu thực hòa vị) tác động trực tiếp vào cơ chế gốc "tỳ hư sinh đàm trọc", giải quyết triệt để bản và tiêu của bệnh.
- Phân tích cơ chế tác dụng thực nghiệm: Cao lỏng Đại an vừa ức chế sự hấp thu và tổng hợp lipid nội sinh, vừa tăng cường thoái giáng và bài tiết lipid, từ đó bảo vệ cấu trúc nội mạc động mạch chủ và tế bào nhu mô gan trước tác động gây xơ hóa của cholesterol.
- Phân tích hiệu quả lâm sàng: Đối chiếu sự tương thích giữa giảm các chỉ số lipid máu YHHĐ và sự thoái lui triệu chứng lâm sàng YHCT; phân tích mối liên quan giữa hiệu quả điều trị với tiền sử tăng huyết áp, phân loại typ Fredrickson và các thể bệnh YHCT.
- Khẳng định tính an toàn, khả năng dung nạp của cao lỏng Đại an và đối chiếu hiệu lực điều chỉnh lipid máu với các chế phẩm YHCT khác đã công bố tại Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những đóng góp khoa học về lý luận và thực tiễn:
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học đối chiếu giữa cơ chế bệnh sinh "bản hư tiêu thực" của chứng đàm thấp trong YHCT với các rối loạn chuyển hóa lipoprotein và cơ chế xơ vữa động mạch trong YHHĐ.
- Chứng minh giá trị lý luận của phương pháp kiện tỳ tiêu thực, hóa đàm khử ứ từ bài thuốc cổ phương Đại an hoàn trong việc điều chỉnh rối loạn lipid máu và dự phòng biến chứng tim mạch do xơ vữa.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Chứng minh thực nghiệm toàn diện trên 3 mô hình động vật: Cao lỏng Đại an có tác dụng điều chỉnh lipid máu trên mô hình nội sinh (Poloxamer 407), mô hình ngoại sinh (dầu cholesterol), đồng thời có tác dụng chống xơ vữa động mạch và bảo vệ tế bào gan trên thỏ thực nghiệm ở 2 mức liều 2,4 g/kg và 4,8 g/kg tương đương thuốc đối chứng Atorvastatin.
- Khẳng định hiệu quả lâm sàng của cao lỏng Đại an trên bệnh nhân rối loạn lipid máu: Làm giảm có ý nghĩa thống kê các chỉ số TC, TG, LDL-C, giảm các tỷ số vữa xơ TC/HDL-C, LDL-C/HDL-C, nâng cao/duy trì HDL-C; cải thiện rõ rệt các triệu chứng cơ năng YHCT ở các thể Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư sau 30 và 60 ngày điều trị.
- Xác định tính an toàn cao của chế phẩm: Không gây độc tính trên gan (AST, ALT), không làm thay đổi bất lợi các chỉ số huyết học và huyết động trên cả thực nghiệm lẫn lâm sàng.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ứng dụng cao lỏng Đại an như một phương pháp điều trị hiệu quả, an toàn cho người bệnh rối loạn lipid máu tại các cơ sở y tế YHCT và kết hợp YHCT - YHHĐ.
- Tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn hóa quy trình công nghệ bào chế cao lỏng Đại an ở quy mô sản xuất công nghiệp nhằm phục vụ rộng rãi công tác điều trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại một trung tâm (Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương) với thời gian theo dõi hiệu quả điều trị trong phạm vi 60 ngày (D60), chưa đánh giá hiệu quả và tính an toàn khi duy trì sử dụng trên 6 tháng đến nhiều năm.
- Chưa tiến hành phân lập, định lượng sâu nồng độ từng hoạt chất tinh khiết trong dịch chiết cao lỏng thành phẩm để đánh giá dược động học chi tiết.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi bệnh nhân sau khi ngừng thuốc để đánh giá độ ổn định của các chỉ số lipid máu.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh học phân tử của từng phân đoạn hoạt chất trong cao lỏng Đại an trên các thụ thể LDLR, enzyme HMG-CoA reductase, LPL, LCAT và các chỉ dấu sinh học chống viêm thành mạch.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và bác sĩ chuyên ngành Y học cổ truyền, Tim mạch, Nội khoa: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp YHCT và YHHĐ trong chẩn đoán, biện chứng luận trị và đánh giá kết quả điều trị bệnh lý chuyển hóa.
- Nhà nghiên cứu Dược học và Dược lý học: Tham khảo thiết kế quy trình thực nghiệm đa mô hình (mô hình nội sinh Poloxamer 407, ngoại sinh dầu cholesterol và mô hình gây xơ vữa động mạch trên thỏ 8 tuần có đối chứng Atorvastatin).
- Cơ sở khám chữa bệnh và sản xuất dược liệu: Ứng dụng công thức bài thuốc và dạng bào chế cao lỏng Đại an vào thực tiễn điều trị hỗ trợ rối loạn lipid máu, giúp giảm thiểu tác dụng phụ của tân dược và tiết kiệm chi phí cho người bệnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Bài thuốc cổ phương nào được luận án lựa chọn và dạng bào chế nghiên cứu là gì?
Luận án lựa chọn bài thuốc cổ phương "Đại an hoàn" gồm các vị thuốc như Sơn tra, Trần bì, Bán hạ, Bạch linh, Thần khúc... có công năng kiện tỳ, tiêu thực tích, hóa đàm thấp để bào chế dưới dạng cao lỏng Đại an phục vụ nghiên cứu thực nghiệm và điều trị lâm sàng.
2. Nghiên cứu thực nghiệm đã đánh giá tác dụng của cao lỏng Đại an trên những mô hình động vật nào?
Nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên 3 mô hình:
- Mô hình gây rối loạn lipid máu nội sinh bằng Poloxamer 407 trên chuột.
- Mô hình gây rối loạn lipid máu ngoại sinh bằng hỗn hợp dầu cholesterol trên chuột cống trắng (đánh giá sau 2 tuần và 4 tuần).
- Mô hình gây xơ vữa động mạch trên thỏ trong 8 tuần (sử dụng 2 mức liều 2,4 g/kg và 4,8 g/kg so sánh với lô mô hình và lô đối chứng Atorvastatin).
3. Thuốc đối chứng nào được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm xơ vữa động mạch trên thỏ?
Thuốc đối chứng dương được sử dụng trong mô hình gây xơ vữa động mạch trên thỏ 8 tuần là Atorvastatin. Kết quả nghiên cứu mô bệnh học đại thể và vi thể động mạch chủ cùng vi thể gan thỏ cho thấy cao lỏng Đại an thể hiện tác dụng bảo vệ thành mạch và hạn chế thoái hóa mỡ gan tương tự lô đối chứng Atorvastatin.
4. Hội chứng rối loạn lipid máu tương đương với chứng bệnh nào trong Y học cổ truyền và theo cơ chế bệnh sinh gì?
Trong Y học cổ truyền, hội chứng rối loạn lipid máu tương đương với chứng "đàm thấp" (thuộc nhóm đàm vô hình tích tụ trong huyết mạch). Cơ chế bệnh sinh cốt lõi mang đặc điểm "bản hư tiêu thực", trong đó tỳ vị suy giảm chức năng vận hóa tân dịch kết hợp hư tổn tạng thận là "bản", đàm trọc và huyết ứ trở trệ trong kinh mạch là "tiêu".
5. Nghiên cứu lâm sàng đã khảo sát những thể bệnh YHCT nào và theo dõi ở các mốc thời gian nào?
Nghiên cứu lâm sàng khảo sát 3 thể bệnh chính theo YHCT gồm: Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư và Can thận âm hư. Các chỉ số lâm sàng, triệu chứng cơ năng YHCT, chỉ số nhân trắc (BMI, huyết áp) và hóa sinh lipid máu (TC, TG, HDL-C, LDL-C, TC/HDL-C, LDL-C/HDL-C) được theo dõi chặt chẽ tại các mốc thời điểm ngày thứ 0 (D0 - trước điều trị), ngày thứ 30 (D30) và ngày thứ 60 (D60 - sau điều trị).
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Tạ Thu Thủy đã chứng minh một cách khoa học tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu và chống xơ vữa động mạch của cao lỏng Đại an trên cả 3 mô hình thực nghiệm động vật và trên bệnh nhân lâm sàng. Kết quả nghiên cứu khẳng định hiệu quả cải thiện rõ rệt các chỉ số lipid máu (TC, TG, LDL-C, TC/HDL-C, LDL-C/HDL-C) đi đôi với sự thoái lui các triệu chứng lâm sàng YHCT theo từng thể bệnh. Luận án cung cấp bằng chứng xác thực về độ an toàn của chế phẩm, không gây độc tính trên gan, huyết học và huyết động, qua đó khẳng định giá trị thực tiễn của việc kế thừa và phát triển bài thuốc cổ phương trong quản lý, điều trị hội chứng rối loạn lipid máu.