CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VIỆC SỬ DỤNG VỐN VAY TỪ CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TÍN DỤNG VI MÔ Hiện nay việc cho vay đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, những người kinh doanh, bán buôn nhỏ lẻ với qui mô của khoản vay có giá trị nhỏ thường được các nhà kinh tế học gọi là hoạt động tài chính vi mô, trong phạm vi hẹp hơn gọi là chương trình tín dụng vi mô. Tài chính vi mô thường được hiểu là hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính cho thương nhân và doanh nghiệp nhỏ, các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và cận nghèo. The two main mechanisms for the delivery of financial services to such clients are (1) relationship-based banking for individual entrepreneurs and small businesses; and (2) group-based models, where several entrepreneurs come together to apply for loans and other services as a group.
Hai cơ chế chính cho việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các khách hàng đó là: Một là dựa trên mối quan hệ nghiệp vụ ngân hàng cho các đối tượng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ, và Hai là dựa trên mô hình nhóm, ở đó họ có cùng mục đích vay và cùng sử dụng những dịch vụ khác được tổ chức tín dụng cung cấp. Tín dụng vi mô là việc cho vay khoản tiền có giá trị nhỏ đối với hộ nghèo, những người thu nhập thấp, thường những đối tượng này thiếu tài sản thế chấp. Nó được thiết kế để thúc đẩy tinh thần sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, giảm nghèo và cũng thường để đem lại sự bình đẳng và vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Luan van 5 Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ở Việt Nam, có nhiều tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ tài chính vi mô được chia ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức. Khu vực chính thức gồm hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn. Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước và chương trình của các tổ chức xã hội.
Khu vực phi chính thức là các nhóm cho vay tương hỗ dưới hình thức phường, họ, hụi, thậm chí cho vay nặng lãi. Trong các tổ chức tín dụng vừa nêu trên thì Ngân hàng chính sách xã hội có số lượng khách hàng được hưởng dịch vụ tài chính vi mô là hộ nghèo chiếm nhiều nhất và có nguồn gốc là Ngân hàng phục vụ người nghèo. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO Nguồn vốn cho các chương trình tín dụng vi mô có vai trò quan trọng cho công tác xóa đói giảm nghèo nói chung và người nghèo nói riêng, chính vì thế đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành, các nhà làm chính sách, những người thực hiện chính sách cũng như các nhà khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu ở những góc độ và cách tiếp cận với các phương pháp khác nhau. Trong đó các nghiên cứu có liên quan mà đề tài quan tâm nhất là: - Nghiên cứu đánh giá tiếp cận nguồn tín dụng Hợp, Hương và Hương ( 2010) nghiên cứu đánh giá những cơ hội và tác động có thể xảy ra của tự do hoá thương mại đến các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo ở Việt Nam.
Các mục tiêu cụ thể là: Xác định khả năng Luan van 6 tiếp cận của người nghèo và những người có nguy cơ bị gạt ra khỏi xã hội (yếu thế với các dịch vụ tài chính từ khi Việt Nam là thành viên của WTO); Đánh giá những cơ hội, thách thức và những rủi ro tiềm năng đối với các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam, gồm quản lý và hoạt động, khả năng tự vững, các khoản quỹ mang tính thị trường và phát triển bền vững. Đề xuất cơ chế dịch vụ tài chính thích hợp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo đến nguồn tín dụng sản xuất và tiếp thị với chi phí chấp nhận được. Nghiên cứu này gồm 3 phần: (1) rà soát những chính sách liên quan và khung chính sách các lĩnh vực ngân hàng và tài chính vi mô ở Việt Nam khi gia nhập WTO; (2) nhìn lại tình hình các tổ chức tài chính vi mô và các thành viên của M7 để tìm hiều những vấn đề tồn tại. Đồng thời, báo cáo cũng trình bày nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của người nghèo ở nông thôn ở các nước khác trong khung cảnh tự do hóa thương mại.
Nghiên cứu cũng rà soát thách thức và cơ hội cho các tổ chức này; (3) tập hợp các bài học về thành công và thất bại từ các nước trong khu vực. Bên cạnh đó Hợp, Hương và Hương ( 2010) Nghiên cứu về tài chính vi mô ở Philippines nêu rõ vai trò của chính phủ và những đổi mới tài chính trong việc tiếp cận ở nông thôn và nhận định rằng những đổi mới tài chính sẽ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo với tín dụng ở nông thôn và làm giảm nghèo.Trong qúa trình thực hiện nghiên cứu ở một số tỉnh trong 7 địa bàn của M7 để có sự phản hồi của người dân và các thể chế tín dụng vi mô là tỉnh Sơn La (Mai Sơn), tỉnh Quảng Ninh (Đông Triều va Uông Bí), tỉnh Ninh Thuận (Ninh Phước), nhóm nghiên cứu nhận thấy nguời dân và cả cán bộ địa phương nhận thức về WTO và các tác động của nó còn rất thấp. Điều này có thể hạn chế tới việc ở cấp cơ sở, sự chuẩn bị sẵn sàng và phương thức đối phó với các tác động bất lợi của WTO chưa tốt.“ Bằng cách tăng cường nhận thức về Tài chính vi mô, chúng ta có thể đẩy mạnh quá trình vốn hóa và giảm nghèo tốt hơn. Luan van 7 - Nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng vi mô Hòa và Hiệp (2007), nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác động của vốn vay tín dụng đối với hộ nghèo.
Và từ kết quả nghiên cứu này đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công cụ tín dụng trong việc thực hiện chiến lược xóa đói, giảm nghèo ở huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế ở 2 xã và 1 thị trấn đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau ở huyện Hương Thủy và trên cơ sở đó chọn ngẫu nhiên ở mỗi vùng là 30 hộ nghèo có vay vốn tín dụng để điều tra thu thập thông tin. Nhóm nghiên cứu đã lượng hóa tác động của vốn vay tín dụng đối với hộ nghèo trong quá trình xóa đói, giảm nghèo. Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp hồi quy tương quan với các kiểm định thống kê phù hợp được tính toán bằng phần mềm SPSS và EVIEWS. Trong đó tập trung phân tích đánh giá các vấn đề có liên quan tới sử dụng vốn vay như: (1) Mức vốn vay và các tổ chức tín dụng cho vay; (2) Tác động của vốn vay đối với việc gia tăng tư liệu sản xuất của hộ nghèo, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập khá chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê và là quan hệ thuận.
Hệ số hồi quy (Coefficent) = 0,505 nghĩa là khi mức vốn vay bình quân/lao động tăng lên 1 triệu đồng thì giá trị TLSX bình quân/lao động tăng lên 0,505 triệu đồng trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Việc đầu tư mua sắm TLSX là một trong những mục đích vay vốn của hộ nghèo. Nhờ đó, giúp họ khai thác tốt mọi tiềm năng sẵn có như sức lao động, thời gian nhàn rỗi, tài nguyên đất đai, mặt nước., chủ động tự tạo việc làm cho chính mình, góp phần tăng thu nhập và tiến tới thoát nghèo.Tín dụng tác động đến thu nhập của hộ nghèo rõ nét hơn ở trong dài hạn và ở những mức vốn vay cao hơn. Những hộ nghèo nào được tiếp cận với vốn tín dụng sớm hơn, có mức vốn vay nhiều hơn thì xác suất thoát nghèo cao hơn.
(3) Tác động của tín dụng đối với tạo việc làm cho hộ nghèo: Điều này được thể hiện ở mức vốn Luan van 8 vay bình quân dưới 3 triệu đồng/lao động thì 85,4% số hộ nhận thấy công ăn việc làm là không thay đổi và thay đổi ít, chỉ có 14,6% cho rằng là thay đổi khá nhiều và thay đổi nhiều; ở mức vay bình quân từ 3 - 6 triệu đồng/lao động thì sự cảm nhận tương ứng là 44% và 66%, và ở mức vay bình quân lớn hơn 6 triệu đồng/lao động là 20,8% và 79,2%. Tức là, mức vốn vay nhiều hơn sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn.(4) Tác động của vốn vay đến thu nhập của hộ nghèo:Vốn tín dụng có tác động tích cực và đồng biến đối với việc tăng thu nhập. Khi được vay vốn tín dụng đại đa số hộ nghèo đều thừa nhận có sự tăng lên của thu nhập với các mức thay đổi khác nhau. Chẳng hạn với những hộ nghèo có thời gian vay vốn dưới 1 năm thì 76,5% cảm nhận thấy thu nhập không thay đổi và thay đổi ít và 23,5% cho rằng thu nhập thay đổi khá nhiều và thay đổi nhiều; nếu thời gian vay vốn từ 1 - 3 năm thì mức cảm nhận tương ứng là 45,5% và 54,5%, thời gian vay vốn trên 3 năm là 11,1% và 88,9%.
- Nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng ưu đãi hộ nghèo Võ Thị Thúy Anh (2010) nghiên cứu ứng dụng mô hình Probit, Logit, Tobit đánh giá tác động của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng trong 3 nội dung: (1) Tác động của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo đến xác xuất thoát nghèo kỳ vọng; (2) Mức độ cải thiện đời sống; (3) Mức độ cải thiện phát triển kinh doanh. Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu được thực hiện điều tra 500 hộ nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vay vốn của Ngân hàng chính sách và được tiến hành phân tích ước lượng thông qua mô hình Tobit, Logit, Probit và mô hình hồi quy tuyến tính kết hợp Phương pháp ước lượng thích hợp cực đại với phương sai hiệu chỉnh.