Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam giữ vị thế là quốc gia sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới khi chiếm 14,5% tổng sản lượng toàn cầu và đóng góp tới 35% sản lượng cà phê Robusta thế giới, mang lại kim ngạch xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD vào năm 2019. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của vùng nguyên liệu Tây Bắc, huyện Mai Sơn thuộc tỉnh Sơn La đã trở thành trung tâm sản xuất cà phê Arabica trọng điểm khi chiếm 36,1% tổng diện tích cà phê toàn tỉnh, đạt quy mô 7.322 ha và sản lượng 4.652 tấn cà phê nhân vào năm 2018.

Tuy nhiên, sự bùng nổ của ngành sản xuất cà phê đi kèm với thách thức ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do đặc thù sử dụng công nghệ chế biến ướt. Quy trình này đòi hỏi tiêu hao từ 4 đến 15 m³ nước cho mỗi tấn quả tươi, trong khi nước thải phát sinh từ 1 tấn cà phê chế biến ướt tạo ra tải lượng ô nhiễm hữu cơ tương đương lượng chất thải sinh hoạt của 2.000 người mỗi ngày.

Đề tài tập trung giải quyết vấn đề đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải, mức độ suy thoái môi trường nước và năng lực quản lý nhà nước đối với 80 cơ sở chế biến cà phê trên địa bàn 3 xã trọng điểm là Chiềng Mung, Chiềng Ban và Mường Chanh trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2020. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định chính xác các nguồn thải, định lượng mức độ ô nhiễm theo các quy chuẩn môi trường quốc gia và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, kỹ thuật xử lý đồng bộ nhằm giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ lưu vực suối Nậm Pàn và Nậm Chanh, thúc đẩy ngành cà phê Sơn La phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tích hợp hai lý thuyết cốt lõi: Lý thuyết Đánh giá tác động môi trường (EIA) nhằm nhận diện, dự báo và lượng hóa các biến đổi chất lượng môi trường do hoạt động sản xuất gây ra; kết hợp cùng Lý thuyết Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp (Circular Agriculture) nhằm tối ưu hóa chu trình vật chất, biến phụ phẩm hữu cơ thành nguồn tài nguyên tái tạo.

Bên cạnh đó, mô hình cân bằng vật chất chu trình chế biến ướt được ứng dụng để phân tích dòng chuyển hóa của quả cà phê tươi, trong đó hạt cà phê nhân thành phẩm chỉ chiếm từ 26% đến 30% khối lượng, còn lại 70% đến 74% phát sinh dưới dạng vỏ quả, thịt quả, nhớt và nước thải hữu cơ. Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Nhu cầu oxy hóa học (COD), Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), Quá trình phân giải kỵ khí sinh học, Độ chua tự do của dịch chiết nhớt (pH 3,8 đến 4,4), và Tải lượng chất rắn lơ lửng (TSS).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm số liệu thống kê kinh tế xã hội giai đoạn 2014-2018 của Cục Thống kê tỉnh Sơn La, các biên bản thanh tra môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2019-2020 và chuỗi số liệu quan trắc thực địa đợt 1 (tháng 7/2020) và đợt 2 (tháng 10 đến tháng 11/2020 - thời điểm chính vụ thu hoạch).

Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 185 phiếu khảo sát, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích đối với 3 nhóm đối tượng: 100 hộ dân sinh sống giáp ranh các khu chế biến, 80 chủ cơ sở sản xuất cà phê (gồm 78 hộ cá thể công suất 2-15 tấn/ngày và 2 nhà máy công nghiệp công suất 60-150 tấn/ngày), cùng 5 cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện và tỉnh.

Chương trình quan trắc môi trường thực hiện lấy mẫu tại 6 vị trí nước thải thuộc 3 cơ sở đại diện (trước và sau hệ thống xử lý) phân tích 21 chỉ tiêu, cùng 6 vị trí nước mặt trên các suối Nậm Pàn và Nậm Chanh (từ NM1 đến NM6) phân tích 17 chỉ tiêu. Các phương pháp phân tích tiêu chuẩn như TCVN 6492:2011 (đo pH), SMEWW 5210 D (đo BOD5), SMEWW 5220 C (đo COD) và SMEWW 3111B:2012 (đo kim loại Fe, Mn) được lựa chọn nhờ độ chính xác cao, tính pháp lý chặt chẽ và khả năng đối sánh trực tiếp với QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B) và QCVN 08:2015/BTNMT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích từ 80 cơ sở chế biến cà phê trên địa bàn huyện Mai Sơn đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  • Tải lượng ô nhiễm nước thải hữu cơ cực kỳ nghiêm trọng: 100% cơ sở nghiên cứu đều áp dụng công nghệ chế biến ướt. Nước thải phát sinh từ công đoạn xát vỏ và rửa nhớt có hàm lượng COD dao động từ 9.270 đến 14.800 mg/L, vượt quy chuẩn xả thải QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B) từ 61 đến 98 lần; hàm lượng BOD5 đạt từ 472 đến 551 mg/L, vượt giới hạn từ 9 đến 11 lần; tính axit mạnh với giá trị pH thấp từ 4,27 đến 4,40.
  • Nguồn nước mặt tiếp nhận bị suy thoái sinh thái nặng nề: Dữ liệu quan trắc nước suối Nậm Pàn và Nậm Chanh trong đợt chính vụ tháng 10/2020 ghi nhận nồng độ oxy hòa tan (DO) tại các điểm hạ lưu khu vực xả thải tụt giảm mạnh xuống dưới 1,0 mg/L (thậm chí đạt 0,25 mg/L), làm mất hoàn toàn khả năng tự làm sạch của nguồn nước.
  • Áp lực từ chất thải rắn hữu cơ chưa được kiểm soát: Vỏ và thịt quả chiếm từ 70% đến 74% tổng trọng lượng quả tươi, phát sinh trung bình 0,5 tấn vỏ thịt và 0,18 tấn vỏ trấu trên mỗi tấn nguyên liệu. Hơn 70% cơ sở hộ gia đình đổ đống phụ phẩm ngoài trời không lót đáy, dẫn đến nước rỉ rác chứa tannin (0,02%) và caffeine (0,4%) ngấm vào tầng nước ngầm.
  • Lỗ hổng về cơ cấu nhân sự quản lý môi trường: Toàn bộ 78 cơ sở quy mô nhỏ lẻ đều do cấp huyện quản lý, tuy nhiên trong số 7 cán bộ của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mai Sơn chỉ có 1 cán bộ (chiếm 14,3%) có chuyên môn về khoa học môi trường, 6 cán bộ còn lại (chiếm 85,7%) thuộc chuyên ngành quản lý đất đai.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm vượt kiểm soát là tính chất mùa vụ ngắn (tập trung cao điểm từ tháng 9 đến tháng 12) khiến lưu lượng chất thải tăng đột biến vượt xa dung tích các hồ lắng tự nhiên. Hơn nữa, việc 97,5% cơ sở là hộ kinh doanh nhỏ lẻ tự phát dẫn đến tình trạng thiếu vốn đầu tư hệ thống xử lý hoàn chỉnh.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, hiện trạng tại Mai Sơn có nét tương đồng với lưu vực sông Jimma tại Ethiopia, nơi nước thải cà phê chưa xử lý làm nồng độ DO giảm về 0,01 mg/L và BOD tăng lên 1.900 mg/L, cũng như cuộc khủng hoảng ô nhiễm sông ngòi tại Costa Rica thập niên 1980.

Trong thực tế phân tích dữ liệu, diễn biến chất lượng môi trường được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh nồng độ DO và COD giữa các điểm quan trắc thượng lưu (NM1, NM3, NM5) và hạ lưu (NM2, NM4, NM6). Sự tương phản rõ rệt trên biểu đồ minh chứng nguồn xả thải từ chế biến cà phê chính là nguyên nhân trực tiếp gây ô nhiễm nguồn nước mặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường do chế biến cà phê tại huyện Mai Sơn, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được kiến nghị thực hiện:

  • Quy hoạch và di dời tập trung: Tiến hành di dời 78 cơ sở chế biến cà phê quy mô hộ gia đình phân tán tại các khu dân cư vào Cụm công nghiệp Mai Sơn; xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung với công suất thiết kế 1.500 m³/ngày đêm; lộ trình hoàn thành trong giai đoạn 2021-2025; cơ quan chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Mai Sơn phối hợp cùng Sở Công Thương tỉnh Sơn La.
  • Áp dụng công nghệ xử lý sinh học kỵ khí kết hợp oxy hóa nâng cao: Bắt buộc các cơ sở công nghiệp và hợp tác xã lắp đặt hệ thống phản ứng kỵ khí dòng chảy ngược (UAHR) với thời gian lưu nước 18 giờ kết hợp quá trình oxy hóa tăng cường bằng UV/H2O2/O3, đặt mục tiêu kỹ thuật xử lý giảm 86% đến 87% COD và 66% BOD5 đạt QCVN 40:2011/BTNMT; thời gian triển khai từ quý 1/2021 đến cuối năm 2023; cơ quan giám sát là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La.
  • Tận dụng phụ phẩm sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh: Triển khai mô hình ủ compost hiếu khí sử dụng chế phẩm sinh học BIMA (chứa nấm đối kháng Trichoderma) cho 100% khối lượng vỏ cà phê phát sinh (khoảng trên 15.000 tấn phụ phẩm/năm), chu kỳ ủ từ 60 đến 69 ngày giúp giảm 11,04% đến 18,51% hàm lượng Nitơ tổn thất và tạo nguồn phân bón hữu cơ chất lượng cao; thời gian áp dụng bắt đầu từ niên vụ 2021; cơ quan phụ trách là Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mai Sơn.
  • Kiện toàn bộ máy quản lý và lắp đặt hệ thống giám sát tự động: Tổ chức đào tạo nghiệp vụ quản lý môi trường định kỳ cho 100% cán bộ cấp huyện và xã; thiết lập 2 trạm quan trắc tự động liên tục đối với nước thải tại các đơn vị quy mô lớn (như Nhà máy Phúc Sinh và Hợp tác xã Mường Chanh); thực hiện thường xuyên từ năm 2021; cơ quan điều hành là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý nhà nước thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để xây dựng quy chế quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và lập quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu cà phê bền vững tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh chế biến cà phê: Vận dụng hướng dẫn quy trình công nghệ ủ vỏ cà phê thành phân vi sinh và mô hình tuần hoàn nước thải nhằm giảm chi phí sản xuất, hạn chế rủi ro vi phạm pháp luật môi trường và nâng cao giá trị thương phẩm hạt cà phê.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường và Nông nghiệp: Khai thác bộ số liệu thực nghiệm về động học ô nhiễm chất thải cà phê, các phương pháp phân tích chuẩn TCVN/SMEWW và phương pháp xây dựng kịch bản dự báo phát sinh chất thải làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững và hiệp hội ngành hàng cà phê: Tham khảo các chỉ số phát thải và giải pháp kinh tế tuần hoàn để thiết kế các dự án viện trợ chuỗi giá trị cà phê xanh, hỗ trợ chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế cho nông dân địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao phương pháp chế biến cà phê ướt tại Mai Sơn lại gây ô nhiễm nước mặt nghiêm trọng hơn phương pháp khô? Chế biến ướt tiêu thụ lượng nước rất lớn từ 4 đến 15 m³ cho mỗi tấn quả tươi, đồng thời hòa tan toàn bộ lớp chất nhầy chứa nhiều đường và pectin. Dịch nhớt này nhanh chóng lên men tạo thành các axit hữu cơ làm pH giảm xuống mức 4,27-4,40 và đẩy nồng độ COD lên tới 14.800 mg/L, vượt xa khả năng tự làm sạch của sông suối tự nhiên.

  • Nước thải chế biến cà phê có thể xử lý để thu hồi năng lượng tái tạo như thế nào? Thông qua hệ thống phản ứng kỵ khí Biogas Bioreactor, các vi sinh vật kỵ khí sẽ phân hủy các hợp chất hữu cơ trong nước thải để tạo ra khí sinh học. Thực nghiệm cho thấy quy trình xử lý 8 tấn cà phê/ngày có thể tạo ra 12.000 m³ khí biogas trong vụ mùa 5 tháng, giúp thay thế 77% lượng dầu diesel dùng để vận hành máy phát điện.

  • Vỏ cà phê thải ra sau chế biến được tái chế thành phân bón vi sinh theo quy trình nào? Phụ phẩm vỏ quả được phối trộn với lân, vôi bột, phân chuồng để đạt độ ẩm 55-60%, sau đó bổ sung chế phẩm vi sinh BIMA và ủ đống hiếu khí trong 60 đến 69 ngày. Quá trình sinh nhiệt từ 30°C đến 64°C giúp tiêu diệt mầm bệnh và chuyển hóa cellulose thành mùn hữu cơ giàu dinh dưỡng phục vụ bón lại cho cây trồng.

  • Khó khăn lớn nhất trong công tác quản lý nhà nước về môi trường tại địa bàn huyện Mai Sơn là gì? Thách thức lớn nhất xuất phát từ việc 78/80 cơ sở là các hộ gia đình hoạt động phân tán, thiếu kinh phí xây dựng công trình xử lý nước thải chuẩn hóa. Cùng với đó, 85,7% cán bộ quản lý môi trường cấp huyện thiếu chuyên môn sâu về khoa học môi trường khiến công tác giám sát, thanh tra gặp nhiều hạn chế.

  • Chất lượng nước suối Nậm Pàn biến đổi như thế nào vào thời điểm chính vụ thu hoạch cà phê? Vào đợt thu hoạch cao điểm từ tháng 10 đến tháng 11, khi 80 cơ sở đồng loạt xả nước thải chưa xử lý triệt để, nồng độ oxy hòa tan (DO) tại các điểm hạ lưu suối Nậm Pàn suy giảm xuống dưới 1,0 mg/L, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) và COD tăng vọt gấp nhiều lần so với mùa không chế biến, gây hủy hoại hệ thủy sinh.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp bức tranh toàn diện và chính xác về hiện trạng môi trường của 80 cơ sở chế biến cà phê tại huyện Mai Sơn, địa bàn chiếm hơn 36% diện tích cà phê toàn tỉnh Sơn La.
  • Định lượng chi tiết mức độ phát thải nguy hại với hàm lượng COD trong nước thải đạt đỉnh 14.800 mg/L và sự suy giảm DO nguồn nước mặt xuống dưới 1,0 mg/L vào mùa vụ chế biến ướt.
  • Xác định rõ bất cập trong năng lực quản trị địa phương khi 85,7% cán bộ phụ trách tài nguyên môi trường cấp huyện chưa được đào tạo đúng chuyên ngành môi trường.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao, bao gồm công nghệ kỵ khí UAHR (giảm 61% COD), công nghệ oxy hóa tăng cường UV/H2O2/O3 (giảm 87% COD) và mô hình ủ phân vi sinh compost 60-69 ngày.
  • Thiết lập lộ trình quy hoạch tập trung giai đoạn 2021-2025 nhằm di dời các cơ sở nhỏ lẻ vào Cụm công nghiệp Mai Sơn với hệ thống xử lý nước thải 1.500 m³/ngày đêm.

Bước tiếp theo đòi hỏi chính quyền tỉnh Sơn La nhanh chóng ban hành quy chế kiểm soát chất thải nông sản mùa vụ và cấp ngân sách triển khai các trạm quan trắc tự động. Các cơ sở chế biến cần chủ động liên kết chuyển giao công nghệ xử lý sinh học nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho thương hiệu cà phê Sơn La.