Đặt vấn đề Môi trường là một nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, mỗi quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển bền vững là vấn đề mang tính sống còn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Nước ta đang ở trong thời kỳ phát triển và hội nhập, trong công cuộc CNH - HĐH đất nước đã có nhiều dự án được mở ra nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ,. cũng như nền kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên sự phát triển ồ ạt của các nhà máy, xí nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề đã và đang tác động không nhỏ tới chất lượng môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội. Nhiều cơ sở sản xuất đã xả thải trực tiếp các chất ô nhiễm ra môi trường mà không qua xử lý làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng môi trường. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta đang trở thành vấn đề đáng báo động và cần có các biện pháp cũng như các luật pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường góp phần vào chiến lược triển bền vững. Chính vì vậy Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993.
Cho đến ngày 29/11/2005 thì Luật BVMT năm 1993 được thay thế bằng Luật BVMT năm 2005, kèm theo đó Chính phủ và Bộ Tài nguyên Môi trường đã ban hành các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường, hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường. Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một công cụ mang tính khoa học và kỹ thuật được sử dụng để dự báo các tác động môi trường có khả năng gây ra bởi các dự án đầu tư. Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp và biên pháp nhằm tăng cường các tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực, góp phần làm cho dự án đầu tư được bền vững trong thực tế triển khai. Với mong muốn góp phần BVMT cũng như trau dồi và hệ thống lại các kiến thức đã được học để phục vụ cho công việc của một cử nhân ngành môi trường sau khi tốt nghiệp, em chọn đề tài: “Đánh giá tác động môi trường của Dự án Xây n dựng mô hình quản lý, xử lý chất thải rắn tổng hợp cho một số làng nghề tại thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định” 1.
Mục đích của đề tài - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu. - Đánh giá chất lượng môi trường nền tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá tác động môi trường khi dự án thi công và đi vào vận hành. - Đề xuất phương pháp giảm thiểu các tác động đến môi trường trong quá trình thực hiện dự án.
Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được các tác động môi trường của dự án. - Đề xuất các giải pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường, kinh tế - xã hội khu vực dự án. - Đề tài có độ chính xác và mang tính thiết thực. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Ý nghĩa trong thực tiễn: + Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm, điều chỉnh và xây dựng được các mô hình quản lý chất thải rắn tổng hợp cho một số loại hình làng nghề đặc trưng, phù hợp với từng vùng miền nhằm phổ biến, nhân rộng cho các làng nghề nói riêng và khu vực nông thôn nói chung trên toàn quốc. + Xây dựng cơ chế chính sách, cơ chế tài chính phù hợp trong việc quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn tổng hợp làng nghề. + Đánh giá được mức độ các tác động của dự án tới môi trường, từ đó có những định hướng xây dựng phù hợp và đảm bảo sự cân bằng giữa việc phát triển với yếu tố môi trường.
n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 2. Khái niệm về đánh giá tác động môi trường Khái niệm về đánh giá tác động môi trường (ĐTM hoặc Environmental Impact Assessment, EIA) rất rộng và hầu như không có định nghĩa thống nhất. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về ĐTM được nêu ra.
Nhưng theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam đã nêu: Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo những ảnh hưởng tới môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh công trình kinh tế, khoa học, kĩ thuật, y tế, văn hoá, an ninh quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường. Mục đích, ý nghĩa và đối tượng nghiên cứu của ĐTM 2. Mục đích - ĐTM cung cấp một quy trình xem xét tất cả các hoạt động có hại đến môi trường khi dự án được hoạt động. - Cộng đồng có thể tham gia và đóng góp ý kiến của mình tới chủ dự án và các cấp chính quyền để đưa ra phương án giải quyết có hiệu quả nhất.
- ĐTM còn xem xét lợi ích của bên đề xuất dự án, chính phủ và cộng đồng để lựa chọn phương án tốt hơn để thực hiện. - Trong ĐTM phải xem xét đến khả năng thay thế như công nghệ, địa điểm đặt dự án phải xem xét hết sức cẩn thận. Ý nghĩa - ĐTM là công cụ quản lý môi trường để phát triển bền vững. Những hoạt động có hại cho môi trường hiện nay phải được quản lý càng chặt chẽ càng tốt.
Trong một số trường hợp, các hoạt động đó tuy đã bị đình chỉ nhưng hậu quả môi trường do chúng để lại vẫn kéo dài hàng chục năm. Những tác động tiêu cực đó được giải quyết sớm ngay từ giai đoạn quy hoạch. - ĐTM đảm bảo hiệu quả cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. - ĐTM góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp quản lý, của chủ dự án về việc bảo vệ môi trường.
n - ĐTM khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn, giúp cho dự án hoạt động có hiệu quả hơn. - ĐTM giúp chính phủ và các chủ dự án tiết kiệm được thời gian, tiền của trong thời hạn phát triển lâu dài. - ĐTM giúp cho mối liên hệ giữa nhà nước, các cơ sở và cộng đồng thêm chặt chẽ thông qua ý kiến của quần chúng khi dự án được đầu tư và hoạt động. Đối tượng Không phải tất cả các dự án đều phải tiến hành ĐTM.
Mỗi quốc gia, căn cứ vào những điều kiện cụ thể, loại dự án, quy mô dự án và khả năng gây tác động,. mà có quy định mức độ đánh giá với mỗi dự án. Đối tượng chính thường gặp và có số lượng nhiều nhất là các dự án phát triển cụ thể như sau: - Một số bệnh viện lớn. - Một số nhà máy công nghiệp.
- Công trình thủy lợi, thủy điện. - Công trình xây dựng lớn… 2. Sự ra đời và sự phát triển của Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 2. Sự ra đời và phát triển ĐTM trên thế giới Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ trong các thập niên 1950 -1960 đã tác động đến môi trường, ảnh hưởng tiêu cực tới sức khoẻ, tài nguyên thiên nhiên và thậm chí còn cản trở phát triển kinh tế – xã hội.
Nhằm hạn chế xu hướng này thì việc bảo vệ môi trường tự nhiên đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đưa ra các biện pháp kiểm định về mặt chất lượng môi trường đối với các dự án phát triển trước khi cho phép đầu tư. Nhờ đó ĐTM đã được hình thành sơ khai ở Mỹ từ đầu thập kỉ 1960. Từ năm 1975 việc nghiên cứu ĐTM được xem là một phần nghiên cứu khả thi (luận chứng kinh tế - kỹ thuật), trong đó báo cáo ĐTM là một chương nằm trong báo cáo nghiên cứu khả thi đó. Từ năm 1980, ĐTM không chỉ được thực hiện cho từng dự án riêng lẻ mà còn cho các quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển ngành theo xu hướng lồng ghép kinh tế và môi trường.
Đây là cách ĐTM tích hợp. Tình hình phát triển ĐTM ở một số quốc gia phát triển và một số quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á: n Phát triển ĐTM ở Hoa Kỳ: Cho dù việc xem xét về môi trường đối với các dự án đã được thực hiện từ năm 1960 nhưng tới ngày 01/01/1970 thì Luật về chính sách môi trường quốc gia (NEPA) mới yêu cầu dự án có tường trình về tác động môi trường (TTM hoặc EIS). TTM được các cơ quan chính quyền, công ty tư vấn thực hiện cho dự án và được nộp cho Hội đồng chất lượng môi trường (CEQ) để công bố. Các tổ chức phi chính phủ và dân chúng có thể có ý kiến về bản tường trình tác động môi trường trên.
ĐTM ở Hà Lan: Từ giữa thập kỷ 70, Bộ Y tế và Bảo vệ môi trường Hà Lan đã xây dựng quy định về ĐTM. Chính phủ coi ĐTM là công cụ để xem xét các hậu quả đối với môi trường của các dự án. Tháng 6 năm 1980 Uỷ ban thường trực về bảo vệ môi trường của Hạ viện đã phê chuẩn đề xuất của chính phủ về ĐTM. ĐTM ở Malaysia: Năm 1974 Chính phủ Malaysia đã ban hành Luật về chất lượng môi trường ( Environmental Quallty.
Năm 1987 Luật này được bổ sung quy định về ĐTM và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/04/1988. Theo quy định này, các loại dự án sau đây đều phải có báo cáo ĐTM: Nông nghiệp: Cải tạo, chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp với diện tích 500 ha trở lên; Phát triển cácnông trại từ 500 ha trở lên. Sân bay: Xây dựng các sân bay có đường băng 2500m trở lên; Xây dựng đường băng trong các vườn quốc gia. Thuỷ sản: Xây dựng các cảng cá; Mở rộng cảng.
Thuỷ lợi: Xây dựng các đập hồ chứa hoặc mở rộng hồ chứa có diện tích mặt hồ 200 ha trở lên. Dự án có vùng tưới tiêu 5000 ha trở lên. Xây dựng đô thị: các dự án phát triển nhà có diện tích 50 ha trở lên. Công nghiệp: Hoá chất: các dự án sản xuất có công xuất trên 100 tấn/ngày; Giấy, bột giấy: các dự án sản xuất trên 50 tấn/ngày.