ĐẶT VẤN ĐỀ Thành phố Hải Dƣơng là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Hải Dƣơng, nằm ở vị trí trung tâm tỉnh, phía bắc giáp huyện Nam Sách, phía đông giáp các huyện Kim Thành và Thanh Hà, phía tây giáp huyện Cẩm Giàng, phía nam giáp huyện Gia Lộc, phía đông nam giáp hai huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ. Thành phố Hải Dƣơng nằm cách Thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây.Hải Dƣơng có diện tích 71,386 km2, dân số 253.893 ngƣời; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Hải Dƣơng. Với vị trí trung tâm của tỉnh, nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội, trung tâm đồng bằng sông Hồng và trong tam giác tăng trƣởng kinh tế phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh)Với vị trí thuận lợi năm trên tuyến đƣờng 5 huyết mạnh lƣu thông giữa Thủ Đô Hà Nội và TP cảng Hải Phòng, Tỉnh Ủy và Hôi đồng nhân dân tỉnh Hải Dƣơng đang ƣu tiên đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng nhằm thúc đầy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tƣ, tập trung vào các ngành lĩnh vực mũi nhọn, nhiều lợi thế. Đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trƣờng, phát triển các thành phần kinh tế, từng bƣớc hình thành đồng bộ các yếu tố thị trƣờng, tích cực cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, kinh doanh nhằm huy động các nguồn lực cho phát triển.
Mục tiêu chủ đạo là nghiên cứu, ban hành các quy chế, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà đầu tƣ phát triển, chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế cũng nhƣ trong nƣớc, tạo bƣớc tiến mạnh mẽ để phát huy nội lực địa phƣơng, từng bƣớc đƣa TP Hải Dƣơng trở thành trung tâm kinh tế động lực cho khu vực Đông ắc Bộ. Với những thuận lợi về vị trí địa lí, nền tảng kinh tế vững chắc, Đảng bộ, HĐND, U ND TP.Hải Dƣơng đã và đang nỗ lực phấn đấu sẽ đƣa TP.Hải Dƣơng trở thành đô thị loại I trƣớc năm 2020. Trung tâm thƣơng mại Hải Dƣơng tại vị trí số 02, phố Thống Nhất, Phƣờng Lê Thanh Nghị, TP.Hải Dƣơng, với diện tích sàn 6412 m2 là một trong những địa điểm kinh doanh lớn nhất tỉnh, tập trung 530 hộ tiểu thƣơng với các ngành hàng kinh doanh đồ điện tử, vải, nội thất, kim khí, sắt và tiêu dùng. Hàng năm, tại đây diễn ra các hoạt động mua bán, giao thƣơng không chỉ trong phạm vi thành phố mà còn với các khu vực lân cận., đem về thu nhập ổn định cho hàng trăm hộ, và đóng góp không nhỏ trong tiến trình phát triển kinh tế của thành phố Hải Dƣơng nói chung.
1 TTTM Hải Dƣơng đƣợc xây dựng vào năm 1998 trên diện tích 15.000 m2, thiết kế 3 tầng, nằm ở khu vực biệt lập, 4 xung quanh là đƣờng rộng. Thế nhƣng chỉ sau 15 năm ra đời và hoạt động đã hóa thành tro bụi vào ngày 13/9/2013 trƣớc sự chứng kiến và bất lực của ngƣời dân cũng nhƣ lực lƣợng PCCC. Gần 500 tỉ đồng của hơn 500 tiểu thƣơng cũng tiêu tan. Thực tế cho đến nay, mảnh đất khu TTTM vẫn còn bỏ chống, công ty chƣa xây dựng đƣợc báo cáo ĐTM, không chỉ gây hao hụt nguồn thu của nhà nƣớc, mất địa điểm giao thƣơng, phát triển kinh tế, mà còn gây mất mĩ quan đô thị, ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế chung của toàn Thành Phố.
Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng trên, cần nhanh chóng có 1 dự án thay thế TTTM cũ, đó là xây dựng khu TTTM, dịch vụ, giải trí Nguyễn Kim, tổng diện tích là 18190,5 m2, do Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên e e ả D ơ đầ xâ dựng. Dự án cần phải nhanh chóng ĐTM và phê duyệt để sớm đi vào thi công, hoạt động. Đây là 1 dự án thực tế và vô cùng cần thiết với vị trí trọng điểm gần trung tâm thành phố, là điểm nhấn giữa trung tâm thành phố cùng với các công trình trọng điểm khác nhƣ thƣ viện Hải Dƣơng, đài phát thanh truyền hình Hải Dƣơng, nhà thi đấu Hải Dƣơng, nhà thờ Hải Dƣơng.mặt khác, đây là dự án chƣa đi vào xây dựng và đang trong quá trình chờ phê duyệt, do đó tôi đã lựa chọn dự án: “Xây dựng Trung tâm thương mại, dịch vụ, giải trí Nguyễn Kim, Hải Dương” làm đề tài nghiên cứu. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về đánh giá đánh tác động môi trƣờng 1. Lịch sử phát triển của ĐTM 1. Đánh giá tác động trên thế giới Vào cuối những năm 1950 đầu 1960, sau hàng hàng loạt phân tích về ảnh hƣởng của khói và chất thải rắn từ các khu công nghiệp ở Los Angeles và London đến môi trƣờng xung quanh, ảnh hƣởng của những dự án phát triển công nghiệp, nông nghiệp đến hệ động vật hoang dã ở Hoa Kỳ v.trên thế giới bắt đầu hình thành tƣ tƣởng về đánh giá tác động môi trƣờng. Ngƣời ta coi đó nhƣ một trong những công cụ nhằm bảo vệ môi trƣờng.
Dần dần ở nhiều nƣớc. ĐTM trở thành nội dung trong nghiên cứu khả thi của các dự án mới. Đến năm 1969, lần đầu tiên ở Mỹ, những quy định về ĐTM đƣợc đƣa vào chính sách môi trƣờng Quốc gia. Từ 1970 đến nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đã ban hành luật và những quy định dƣới luật về ĐTM môi trƣờng.
Lúc đầu, ĐTM chỉ áp dụng cho những dự án phát triển cụ thể. Về sau, ĐTM đƣợc thực hiện cả với những chiến lƣợc, chính sách chƣơng trình của Chính phủ. [1] Trên thế giới đã hình hình thành nhiều phƣơng pháp ĐTM, có thể chia thành 2 loại: - Các phương pháp ĐTM đợn giản Phƣơng pháp liệt kê số liệu môi trƣờng Phƣơng pháp danh mục các điều kiện môi trƣờng Phƣơng pháp ma trận môi trƣờng Phƣơng pháp chập bản đồ môi trƣờng Phƣơng pháp sơ đồ mạng lƣới - Các phương pháp ĐTM được định lượng hóa ở mức cao Phƣơng pháp mô hình hóa Phƣơng pháp phân tích lợi ích chi phí mở rộng 1. Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam Ở Việt Nam, ĐTM đƣợc đƣa ra lần đầu tiên trong tài liệu “Giới thiệu phƣơng pháp ĐTM” đƣợc trình bày tịa lớp học nâng cao trình độ cán bộ của chƣơng trình 3 nghiên cứu cấp nhà nƣớc về tài nguyên và môi trƣờng.
Công trình đầu tiên đƣợc ĐTM là Thủy điện Trị An vào năm 1985 ( Lê Thạc Cán, 1994). Cuối những năm 1985, Hội đồng bộ trƣởng đã ban hành quyết định công tác điều tra cơ bản, sƣ dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng. Trong quyết định đó khẳng định rằng các dự án công trình xây dựng cơ bản quan trọng, các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội với quy mô lớn đều phải đƣợc xem xét về tác động môi trƣờng trƣớc khi xét duyệt thực hiện. Sau đó nhiều công trình phát triển đƣợc ĐTM nhƣ dự án thủy điện Trị An, nhà máy hóa dầu ở TP.Hồ Chí Minh, hệ thống tƣới tiêu Quản Lộ, Phụng Hiệp ở Đông ằng Sông Cửu Long.
Đầu năm 1993, Thủ tƣớng chính phủ đã ra chỉ thị về thực hiện thủ tục ĐTM đối với các dự án phát triển: “ Các ngành các địa phƣơng khi xây dựng các dự án phát triển, kể cả dự án hợp tác với nƣớc ngoài, đều phải thực hiện nội dung ĐTM, cũng nhƣ quy định thời hạn, kinh phí cần thiết cho các khâu của ĐTM. Ngày 10/9/1993, Bộ trƣởng bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng đã ban hành hƣớng dẫn tạm thời về ĐTM. ản hƣớng dẫn đã nêu khái niệm chung và nội dung về ĐTM, xác định cơ quan lập báo cáo, cơ quan thẩm định báo cáo, duyệt và kết luận về ĐTM, cung nhƣ quy định thời hạn, kinh phí cần thiết cho các khâu của ĐTM. Ngày 27/12/1993, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo Vệ Môi trƣờng và đƣợc chủ tịch nƣớc ký quyết định ban hành ngày 12/12/2005.
Trong đó có những quy định cụ thể về đánh giá tác động môi trƣờng chiến lƣợc cho các dự án chiến lƣợc, các quy hoạch, kế hoạch, và đánh giá tác động môi trƣờng cho các dự án cụ thể. Ngày nay, ĐTM đã trở thành 1 nhu cầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam với ý nghĩa là 1 công cụ khoa học, kỹ thuật và pháp lý để xử lí một cách tích cực mối quan hệ giữa phát triển với bảo vệ môi trƣờng vì mục tiêu phát triển bền vững. Khái niệm cơ bản về ĐTM Khái niệm về đánh giá tác động môi trƣờng ( Enviromental ImpactAssessetment) rất rộng và hầu nhƣ không có định nghĩa thống nhất. Cho đến nay đã có nhiều khái niệm đƣợc nêu nhƣng em chỉ lựa chọn 1 khái niệm mà bản thân em cho là phù hợp nhất: “ĐTM là một quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả môi trƣờng của một dự án phát triển quan trọng.
ĐTM xem xét việc thực hiện dự án sẽ gây ra những vấn đề 4 gì đối với đời sống con ngƣời tại khu vực dự án, tới hiệu quả của chính dự án, và của các hoạt động phát triển khác tại vùng đó. Sau dự báo ĐTM phải xác định các biện pháp làm giảm đến mức tối thiểu các hoạt động tiêu cực, làm cho dự án thích hợp hơn với môi trƣờng của nó”. Vai trò của đánh giá tác động môi trường Cung cấp các thồn tin môi trƣờng cho việc ra quyết định: ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi trƣờng của các chính sách, chƣơng trình, dự án, giúp cho việc ra quyết định thực thi dự án một cách tối ƣu, đúng đắn nhất. Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nƣớc trong chức năng và quyền hạn của mình tiến hành quản lý, bảo vệ môi trƣờng một cách hiệu quả.
Hoàn thiện thiết kế và lựa chọn vị trí dự án: ĐTM giúp dự án hay chủ doanh nghiệp có đủ cơ sở cân nhắc và lựa chọn phƣơng án thích hợp nhất với điều kiện cụ thể về trình độ kỹ thuật, nhân lực và tiền vốn của mình. Tăng cƣờng trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình phát triển. ĐTM tạo phƣơng thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định, thông qua các đề nghị bằng văn bản, ý kiến gửi tới ngƣời ra quyết định.