Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giao đất, giao rừng và quản lý tài nguyên rừng trên thế giới Chýõng trình môi trýờng Liên hợp quốc (UNEP) cho biết, trong 5 nãm qua tốc ðộ phá rừng tãng nhanh, nhất là tại các nýớc Ðông Nam Á, ðe dọa môi trýờng sống của con ngýời cũng nhý sự tồn tại của nhiều loài ðộng, thực vật. Theo tài liệu của Tổ chức Nông Lýõng liên hiệp quốc (FAO) thế giới năm 2008 đang sử dụng 1,476 tỷ ha ðất nông nghiệp, trong ðó ðất dốc là 973 triệu ha chiếm 65,9% [1]. Theo số liệu công bố tại Hội nghị thế giới về rừng lần thứ 12 tổ chức tại thành phố Kuebec, Canada nãm 2002 với chủ ðề “ Rừng, nguồn sống của con ngýời” trên thế giới ðã có gần 500 vụ thảm họa lớn, làm hõn 10.000 ngýời chết, 600 triệu ngýời bị ảnh hýởng, gây thiệt hại về vật chất lên tới 55 tỷ USD nguyên nhân chính là do nạn phá rừng [2].
Tài nguyên rừng thế giới thống kê năm 2010 Diện Tổng diện Tỷ lệ so với tổng Diện tích tích tự Vùng lãnh thổ tích rừng diện tích đất tự rừng bình nhiên (triệu ha) nhiên (%) quân/người (triệu ha) Châu Phi 2.005 45,37 1,4 Bắc & Trung Mỹ 2.135 705 33,02 1,3 Châu Ðại Dýõng 849 191 22,50 5,5 Nam Mỹ 1.033 30,99 0,6 ( Nguồn FAO: Global Forest Resources Assessment, 2010) [3] n 5 Châu Á là nõi có ðộ che phủ thấp nhất và bình quân ha rừng trên ngýời thấp nhất. Ðất ðai bị thoái hóa cũng là vấn ðề rất nghiêm trọng, không những làm mất ði ðộ màu mỡ mà còn kéo theo sự mất nýớc, sự sa mạc hóa và ðồng thời gây ra hàng loạt những hậu quả nhý lũ lụt, hạn hán và sụt lở. Hàng 100 triệu ngýời ðang phải ðối mặt với hậu quả của tình trạng sa mạc hóa và ðất ðai suy thoái ngày càng trầm trọng. Ðể quản lý lâu dài, bền vững tài nguyên rừng thì theo FAO, một trong những biện pháp cần tập trung là thành lập các ðối tác liên khu và xuyên quốc gia trên cõ sở cùng có lợi.
Trong những năm gần đây, FAO đã đánh giá cao nỗ lực của các nước Châu Á - Thái Bình Dương trong việc cải cách các điều luật liên quan tới rừng, đặc biệt là chính sách giao đất rừng và rừng cho các hộ gia đình và các tổ chức xã hội, những nỗ lực này đã khẳng định những cam kết chính trị của các nước trong khu vực đối với quá trình bảo vệ và phát triển bền vững [2]. Trên thế giới, khoa học về sử dụng rừng và đất rừng theo hướng lâm sinh được phát triển từ rất sớm nhưng phần lớn ít chú trọng đến thực chất vấn đề quản lý bảo vệ rừng và đất rừng mà chỉ chú trọng tới việc lợi dụng khai thác lâm sản. Tình trạng mất rừng ở nhiều quốc gia cũng chính là do việc quản lý tài nguyên rừng và đất rừng chưa đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của người dân, nhất là người dân sống gần rừng và dựa vào rừng. Nghiên cứu về chính sách giao đất giao rừng, đối tượng hưởng lợi và các chính sách liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới được đặc biệt quan tâm, nhất là đối với các nước đang phát triển.
Đối với vấn đề quyền sở hữu đất đai, do đặc điểm lịch sử và bản chất của giai cấp thống trị nên ở hầu hết các nước trên thế giới quyền sở hữu về rừng và đất rừng phần lớn thuộc quyền sở hữu tư nhân. n 6 Ở Nepal, Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể các khu rừng cộng đồng ở vùng trung du cho các cộng đồng dân cư địa phương, thông qua sử dụng các tổ chức chính quyền ở cấp cơ sở để quản lý rừng. Chính phủ yêu cầu các tổ chức đó phải thành lập một ủy ban về rừng và cam kết quản lý những vùng rừng ở địa phương theo kế hoạch đã thỏa thuận. Tuy nhiên sau một thời gian người ta nhận ra các tổ chức đó không phù hợp với việc quản lý và bảo vệ rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có các nhu cầu, sở thích khác nhau.
Tiếp theo, Nhà nước đã phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng rừng. Quyền sở hữu rừng chia làm hai loại là sở hữu cá nhân và sở hữu Nhà nước. Trong sở hữu Nhà nước chia rừng thành các quyền sử dụng khác nhau như: Rừng cộng đồng theo các nhóm sử dụng, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ, rừng Nhà nước. Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng rừng.
Trong vòng 14 năm, Nhà nước giao khoảng 9.000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng. Từ năm 1993, chính sách lâm nghiệp mới nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ các nhóm sử dụng rừng, thay đổi chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn (FAO 2003-2007)[1]. Ở Thái Lan, đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng, đã giao được khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư, nhà nước trợ cấp tối đa cho mỗi hộ 50 rai và tối thiểu là 5 rai (1 rai = 1. Thái Lan dự kiến áp dụng một chính sách nông lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi trường và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở (FAO 1976)[17].
Ở Phần Lan hiện nay có 2/3 tổng diện tích rừng thuộc quyền sở hữu tư nhân. Cả nước có trên 430 nghìn chủ rừng và trung bình mỗi chủ rừng có khoảng 33 ha. Sở hữu cá nhân về rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống và liên quan chặt chẽ đến sản xuất nông nghiệp (FAO 1976) [17]. n 7 Ở Inđônêxia, nét đặc biệt trong chính sách đất đai ở nước này là Nhà nýớc quy định mỗi hộ nông dân ở gần rừng đýợc nhận khoán 2.500 m2 đất để trồng cây, hai nãm đầu đýợc phép trồng cây nông nghiệp trên diện tích đó và đýợc quyền hýởng toàn bộ sản phẩm, không phải nộp thuế.
Quá trình sản xuất của nông dân ðýợc sự hỗ trợ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dýới hình thức cho vay. Sau khi thu hoạch ngýời nông dân phải hoàn trả lại giống đã vay, còn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chỉ phải trả 70%, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó [20]. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, Nhà nýớc còn tổ chức hýớng dẫn kỹ thuật, tập huấn làm nghề cho ngýời dân, hỗ trợ xây dựng cõ sở hạ tầng tại nõi họ sinh sống. Từ đó, việc quản lý rừng và đất rừng ở Inđônêxia býớc đầu đã thu đýợc những kết quả đáng kể [20].
Ở Trung Quốc, đất canh tác đýợc Nhà nýớc bảo hộ đặc biệt, khống chế nghiêm ngặt việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang đất khác. Mỗi hộ nông dân chỉ đýợc dùng một nõi làm đất ở với diện tích giới hạn trong định mức quy ðịnh tại địa phýõng. Đất thuộc sở hữu tập thể thì không đýợc chuyển nhýợng, cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp. Đối với đất lâm nghiệp trýớc những nãm 1970, Chính phủ Trung Quốc đã chỉ đạo nông dân trồng cây bằng biện pháp hành chính, nên hiệu quả trồng rừng thấp, chýa có sự phối kết hợp giữa lợi ích cộng đồng với lợi ích của ngýời dân.
Để khắc phục tồn tại đó, býớc sang giai đoạn cải cách nền kinh tế, Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm, khuyến khích hỗ trợ nông dân kinh doanh lâm nghiệp phát triển, bên cạnh đó coi trọng vấn đề bảo vệ rừng. Hiến pháp đã quy định phải tổ chức thuyết phục nhân dân trồng cây bảo vệ rừng. Kể từ nãm 1984, Luật Lâm nghiệp quy định “xây dựng rừng, lấy phát triển rừng làm cõ sở, phát triển mạnh mẽ việc trồng cây, mở rộng phong trào bảo vệ rừng, kết hợp khai thác rừng trồng. Từ đó ở Trung Quốc toàn xã hội tham gia công tác lâm nghiệp, Chính phủ chỉ đạo cán bộ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo mỗi cấp hoàn thành nhiệm vụ, quá n 8 trình thực hiện chính sách này có thýởng, phạt nghiêm minh [18].
Ở Ấn Độ, vào những năm 70 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã phát triển lâm nghiệp xã hội (LNXH). Năm 1986, nước này đã hoàn thành mục tiêu phát triển LNXH tại các bang khác nhau. Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của chính phủ. Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang, gỗ được sử dụng làm chất đốt ở Bi Har và được phép sử dụng ở Orissa thì ở Rajasthan có đến 60% nguồn thu nhập của cộng đồng là từ buôn bán gỗ.
Tại Ấn Độ, liên kết quản lý rừng đã đem lại những lợi ích nhất định cho cả hai bên: Chính phủ (cơ quan lâm nghiệp) và cộng đồng địa phương. Theo Hobley, M, (1996) chính sách lâm nghiệp quốc gia năm 1988 khẳng định sự tham gia của người dân vào sự phát triển và bảo vệ rừng, một trong những điểm thiết yếu của quản lý rừng chính là các cộng đồng tại rừng phải được khuyến khích để tự nhận biết vai trò của bản thân họ trong phát triển và bảo vệ rừng mà họ được hưởng lợi từ đó. Một số quy định cụ thể về cơ chế hưởng lợi được thể hiện như sau: - Quyền sử dụng đất rừng và các lợi ích khác chỉ dành cho những người hưởng lợi thuộc tổ chức thiết chế làng xã tái tạo và bảo vệ rừng. Những tổ chức này có thể là những tổ chức chính quyền cấp cơ sở hay hợp tác xã hay hội đồng lâm nghiệp làng.
Những nhóm hưởng lợi có thể được hưởng những sản phẩm như: cỏ, cành, ngọn và các vật phẩm khác. Nếu họ bảo vệ rừng thành công, họ có thể được hưởng một phần từ thu nhập do bán gỗ đã thành thục. - Cùng với cây làm củi, gỗ và thức ăn gia súc, cộng đồng địa phương cũng được phép trồng các cây ăn quả sao cho phù hợp với quy hoạch trồng rừng chung. Các loài cây bụi, cây họ đậu và cỏ được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ, bảo vệ đất và nguồn nước, làm giàu rừng, ngay cả cây dược liệu cũng có thể trồng theo yêu cầu.
- Cây gỗ chỉ được khai thác cho đến khi cây đã trưởng thành.