CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TÁC DONG CUA THU HOI DAT NÔNG NGHIỆP DEN PHÚC LỢI CUA HO GIA ĐÌNH. Tổng quan ta liệu nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu trong nước Đã có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thu hồi đất có tác động rất lớn đến việc làm, thu nhập theo nhiều cách khác nhau. Nghiên cứu về “ Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hoá đến sinh kế của các hộ nông dân tỉnh Hưng Yên" của Nguyễn Thị Diễn và cộng sự (2012) đã phân tích các tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp dé phát triển các khu, cụm công nghiệp đến sinh kế của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Và kết quả cho thấy sau khi thu hồi đất, ngân sách của địa phương đã tăng lên từ 2 đến 3 lần, thu nhập bình quân đầu người của địa phương tăng, cơ sở hạ tang được cải thiện. Tuy nhiên, việc thu hồi đất cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, an toàn lương thực của các hộ nông dân cũng như địa phương, cùng với việc day nhanh quá trình phân tầng xã hội nông thôn. Nghiên cứu về “ Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân tại dự án khu đô thị cầu Dâu, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An” của Lê Ngọc Phương Quý và cộng sự (2021) đã cho thấy được sau khi thu hồi đất nông nghiệp, diện tích đất canh tác của các hộ dân đều có sự giảm sút rõ rệt. Tuy nhiên, sau khi thu hồi đất, ngành nghề của người dân khá đa dạng, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp giảm mạnh, trong khi lao động tại các lĩnh vực phi nông nghiệp.
và lao động tự do tăng lên. Trái ngược với đó, nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp giảm xuống, các hoạt động của lĩnh vực nói trên lại có dấu hiệu tăng nhưng k đảm bảo lâu đài. Và vốn sinh kế đã có sự chuyền đổi từ nguồn vốn tài chính sang nguồn von vật chất. Với những hạn ché, bài nghiên cứu đã đề xuất những biện pháp dé giải quyết các vấn đề.
Bên cạnh việc ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập, thu hồi đất cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyên dịch cơ cấu nghề nghiệp. Nghiên cứu về “Giải pháp thu thập cho hộ nông dân sau thu hồi đất tại khu công nghiệp Lương Sơn - Hòa Bình” của Bùi Thị Minh Nguyệt và cộng sự ( 2017) tại trường Đại Học Lâm nghiệp dựa trên phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả và phương pháp so sánh đã kết luận được việc thu hồi đất đã tác động mạnh mẽ đến chuyên dịch cơ cấu của huyện theo hướng tích cực, đặc biệt với các đối tượng nông hộ sống bằng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, những đối tượng này cũng dé bị tổn thương nhất. Vì vậy, cần phải có sự chuân bị tốt khả năng tìm kiếm việc làm thay thế cho các hộ gia đình bị thu hồi đất, cũng như có những chính sách giải tỏa và bồi thường cho những hộ dân đó.
Một số các nghiên cứu cũng đã đánh giá ảnh hưởng của thu hồi dat đến phúc lợi của các hộ gia đình. Luận văn về “Nghiên cứu thực trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án nạo vét, kè bờ Đông sông Vân thuộc các phường Nam Bình, Ninh Phong trên địa bàn thành phố Ninh Bình.” (2013) của Đoàn Thu Linh đã Đánh giá những khó khăn và thực trạng đời sống của người dân địa phương khi bị thu hồi dat, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nghiên cứu về “các nhân tố ảnh hưởng đến phúc lợi của hộ gia đình nông thôn tại Việt Nam” của Phan Văn Phúc và cộng sự (2023) cũng đã chỉ ra rằng diện tích đất canh tác của hộ dân ảnh hưởng đến phúc lợi của hộ. Bên cạnh các nghiên cứu đánh giá tác động của thu hồi đất, nhiều nghiên cứu đi vào tìm hiểu thực trạng của thu hồi đất dưới khía cạnh quy trình thu hồi dat, hoạt động thu hồi dat, phương án bồi thường, hỗ trợ; xây dựng chính sách hỗ trợ, những.
vấn đề pháp luật khi thực hiện thu hồi dat.Nghién cứu về “ Đánh giá công tác thu hồi đất, giao đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá" của Đỗ Thị Tám và cộng sự (2018) cho thấy rằng công tác thu hồi đất, giao đất đã thực hiện đúng tiến độ, đúng pháp luật và được đa số người bị thu hồi đất đồng ý. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả giao đất, thu hồi đất cần thực hiện đông bộ một số giải pháp như đa dạng hoá phương án bồi thường, hỗ trợ; xây dựng chính sách hỗ trợ. Lưu Thùy Linh (2014) đã thực hiện nghiên cứu về đảm bảo quyền con người khi thu hồi đất nông nghiệp tại Việt Nam. Nghiên cứu này đã làm rõ lý thuyết và thực hành của luật pháp liên quan đến việc bảo vệ quyền con người trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
Qua đó, nó cũng chỉ ra các hạn chế của luật pháp hiện hành trong việc đảm bảo quyền lợi cho người dân, cũng như những thách thức và vấn đề xuất hiện trong quá trình thực thi pháp luật bởi các cơ quan chính phủ, điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến người nông dân. Tác giả Đoàn Anh Dũng (2018) đã thực hiện nghiên cứu về việc phát triên kinh tế - xã hội lợi ích của quốc gia qua việc thu hồi đất. Bên cạnh đó, dựa trên những lý luận pháp luật về thu hồi đất, luật Dat dai năm 2013 đưa ra những đề xuất và giải pháp dé hoàn thiện những hạn chế về thu hồi đất trên địa ban huyện Chương Mỹ. Tổng quan tài liệu nước ngoài Đánh giá về tác động của thu hồi đất cũng là chủ đề được nhiều học giả trên thé giới quan tâm và nghiên cứu.
Đặc biệt những nghiên cứu đã thé hiện được sự tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp ảnh hưởng tới sinh kế, thu nhập hay sự phát triển đô thị hoá của người dân. Nghiên cứu về “ Impact of Agriculture Land loss and rural livelihoods in Peri - Urban Area: Empirical Evidence from Sebougou, Mali” của Brahima Coulibaly va cộng sự (2020) đã phân tích về khuôn khổ sinh kế nông thôn bền vững trước tinh trạng mở rộng đô thị ở các vùng nông thôn ven đô của Mali. Bài nghiên cứu cho thấy bên cạnh việc tạo ra những tích cực như phát triên các lĩnh vực hoạt động như thương mai, dich vụ bảo hié. thi đô thị hoá ảnh hưởng tới sinh kế của nông dân do mat nhiều đất nông nghiệp như là giảm sản lượng nông nghiệp, giảm thu nhập của người dan,.
Từ đó, bài nghiên cứu đã dé xuất những biện pháp khuyến khích Chính phủ như nên triển khai lập bản đồ đất đai và hệ thống đăng ký đất đai phù hợp cần thiết cho quy hoạch đô thị. Nghiên cứu về “ Economic Development and Agricultural Land Loss in the Pearl River Delta, China" của Anthony Gar - on Yeh và cộng sự (1999) đã cho thay sau khi mắt đất nông nghiệp, người dân ở vùng Châu Giang, Trung Quốc với xu hướng phát triên đô thị, mức tiêu thụ bình quân đầu người tăng mạnh. Bên cạnh đó, việc giảm diện tích đất trồng trọt đã làm cạn kiệt năng lực sản xuất lương thực của khu vực này - từng là một trong những vùng nông nghiệp quan trọng nhất của Trung Quốc. Nghiên cứu về “ Urban expansion and Agricultural land loss in China: A Multiscale Perspective” của Kaifang Shi và cộng sự ( 2016) đã xem xét việc mở rộng đô thị và mắt đất nông nghiệp ở Trung Quốc ở nhiều quy mô từ năm 2001 đến năm 2013.
Việc mở rộng đô thị lần đầu tiên được lập ban dé bằng cách sử dụng NSL, NDVI và vùng nước dữ liệu. Mat đất nông nghiệp đã làm cho sản lượng ngũ cốc giảm. Do đó, nhóm nghiên cứu trên cũng đã đề xuất ra những biện pháp dé có thé giảm bớt tinh trang mắt dat nông nghiệp liên quan tới đô thị hoá. Nghiên cứu “ Urbanization and Agricultural land loss in India: Comparing satellite estimate with census data" của Bhartendu Pandey và cộng sự (2015) da phân tich duge tinh trang mắt đất nông nghiệp tại Ấn Độ bằng cách sử dụng dữ liệu viễn thám từ nhiều cảm biến.
Kết quả cho thấy mat dat nông nghiệp xảy ra ở các thành phố nhỏ nhiều hơn so với thành phố lớn. Trong khi tỷ lệ mất đất nông nghiệp đã giảm ở một số bang thì ở phần lớn các bang, tình trạng mắt đất nông nghiệp do mở rộng đô thị lại ngày càng gia tăng. Khoảng trống nghiên cứu Trong quá trình phát triển đô thị và mở rộng quy hoạch kết cấu hạ tang, việc thu hồi đất nông nghiệp dé tái sắp xếp và phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội dang trở nên ngày càng phô biến. Tuy nhiên, việc thu hồi đất không chỉ mang lại những lợi ích về mặt phát triển mà còn gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với phúc lợi của các hộ gia đình bị ảnh hưởng.
Tại tỉnh Thái Bình, ic dù đã có một số nghiên cứu và báo cáo. về việc thu hồi đất và tác động của nó đối với cộng đồng, nhưng đa số các nghiên cứu chỉ tập trung vào khía cạnh kinh tế, chẳng hạn như việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. it có nghiên cứu nào đề cập sâu rộng về tác động thu nhập, việc làm, tác động về đời sống, xã hội của việc thu hồi đất đối với các hộ gia đình. Hơn nữa, chưa có nghiên cứu nào đánh giá sâu về tác động lâu đài và các hậu quả không mong muốn, chẳng hạn như việc mat dat làm cho nhiều hộ gia đình phải vay vốn hoặc bỏ nghiệp nông, đề chuyển hướng công việc.
Bên cạnh đó, các giải pháp hỗ trợ và bồi thường cho các hộ gia đình bị ảnh hưởng cũng chưa được khám phá một cách toàn diện. Đặc biệt, việc nghiên cứu sâu về những khó khăn mà các hộ gia đình gặp phải sau khi mắt đất, cũng như tìm kiếm giải pháp hỗ trợ họ trong quá trình chuyển đổi sinh kế là một yếu tố thiếu sot. Nhìn chung, việc đánh giá tác động của thu hồi dat đến các hộ gia đình tại Thái Bình đòi hỏi một nghiên cứu chỉ tiết và chuyên sâu hơn, nhằm đưa ra các giải pháp thiết thực và hiệu quả cho cộng đồng và chính quyền địa phương.