MỞ ĐẦU Trong một vài thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của đất nước, ngành công nghiệp khai khác khoáng sản có những tiến bộ không ngừng về số lượng và cả chất lượng, ở Việt Nam khoáng sản rất đa rạng và phong phú, trữ lượng khoáng sản từng nơi khác nhau. Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản cũng đem lại cho nước ta phát triển về mặt kinh tế, suất khẩu khoáng sản của nước ta chủ yếu dạng khoáng sản thô chưa chế biến nên đem lại giá trị kinh tế chưa cao. Thái Nguyên là tỉnh có rất nhiều tiềm năng phát triển kinh tế khai thác và chế biến khoáng sản, với trữ lượng lớn và đa rạng nhiều chủng loại. Một trong những mỏ đa kim đứng hàng đầu thế giới nằm trên địa bàn tỉnh Thái nguyên đang đi vào hoạt động đã đem lại nềm kinh tế của Thái Nguyên đang phát triển đi lên.
Bên cạnh những tác động tích cực do ngành công nghiệp khai thác khoáng sản mang lại thì cũng phải kể đến những tác động tiêu cực. Một trong những mặt tiêu cực đó là các loại chất thải do khai thác chế biến khoáng sản, các nguyên tố độc hại trong đất bị thải ra hòa vào các nguồn nước ngày càng nhiều làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người dân. Môi trường sống của người dân đang bị đe dọa. Hầu hết các sông suối quanh khu vực khai thác khoáng sản đều bị ô ngiễm nguồn nước.
Ở Thái Nguyên, vấn đề bảo vệ môi trường nước sông suối đã được các ngành, các cấp trong tỉnh cũng như trung ương rất quan tâm. Nhiều nghiên cứu về chất lượng nước sông suối đã được tiến hành; nhiều đề tài, dự án về bảo vệ môi trường và cảnh quan lưu vực sông Cầu đã được thực hiện. Tuy nhiên, các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nước thải trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tới môi trường nước mặt và trầm tích trên suối còn khá ít, và hầu như chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của nước thải trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tới môi trường nước mặt và trầm tích trên Suối Cát huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo các báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường từ năm 2010 đến năm 2014 thì nước mặt và trầm tích trên Suối Cát đang bị ảnh hưởng bởi các kim loại nặng và á kim. Để theo dõi diễn biến theo thời gian và không gian của các chất gây ô nhiễm trong nước và trầm tích trên Suối Cát do nước thải của khu khai thác và chế biến khoáng sản, đồng thời đề xuất các phương án quản lý giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của nước thải trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản tới môi trường nước và trầm tích trên Suối Cát, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ”.
Nhằm góp phần làm rõ tác động của các chất gây ô nhiễm trong quá trình khai thác và chế biến khoáng sản tới chất lượng môi trường nước mặt và trầm tích trên Suối Cát, hỗ trợ cho công tác bảo vệ môi trường tại địa phương. Mục tiêu cụ thể của đề tài là: - Đánh giá mức độ ô nhiễm và hiện trạng môi trường nước mặt, trầm tích trên Suối Cát trước và sau điểm tiếp nhận nước thải khu khai thác và chế biến khoáng sản. - Đánh giá mối liên hệ giữa các chất gây ô nhiễm trong nước và trầm tích sau điểm tiếp nhận nước thải khu khai thác và chế biến với tình hình khai thác chế biến khoáng sản. - Đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm về khai thác khoáng sản và những vấn đề môi trƣờng ở việt Nam. Đặc điểm về khoáng sản Việt Nam Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát). [19] Khoáng sản Việt Nam có các đặc điểm đa dạng về loại hình với 80 loại hình mỏ khoáng sản và 3500 mỏ khoáng sản lớn nhỏ.
Các loại khoáng sản chính gồm: Dầu trữ lượng từ 3-5 tỷ tấn; Khí khoảng 1000 tỷ m3; Than đá khoảng 3,5 tỷ tấn tập trung ở Quảng Ninh; Than nâu khoảng 200 tỷ tấn có ở đồng bằng Bắc Bộ; Sắt có khoảng 550 triệu tấn ở Thạch Khê và 100 triệu tấn ở Quỷ Xạ; Bauxit khoảng 4 tỷ tấn ở Đắc Lắc và Lâm Đồng; Đá vôi có trữ lượng rất lớn ở miền Bắc và miền Trung; Caolin, sét kaolin có trữ lượng khoảng 300 triệu tấn; Apatít có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn tập trung ở Lào Cai; Vàng có trữ lượng khoảng 300 tấn; Đất hiếm có khoảng 10 triệu tấn kim loại quy đổi. Quá trình phát triển Công nghiệp khai khoáng Việt Nam bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ 19 do Pháp khởi xướng, từ năm 1955, Việt Nam đã tiếp quản, duy trì và phát triển các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản. Đến nay, đã tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ. [19] Tỷ lệ xuất khẩu khoáng sản ở Việt Nam tương đối cao.
Tính riêng 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu quặng và khoáng sản tăng trưởng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm trước, tăng lần lượt 100,86% và tăng 3,11% tương đương với 1,4 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triệu tấn, trị giá 140,5 triệu USD. Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 91,2% lượng quặng và khoáng sản, với 1,2 triệu tấn, trị giá 101,7 triệu USD, tăng 129,29% về lượng và tăng 28,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Kế đến là thị trường Nhật Bản, với 20,7 nghìn tấn, trị giá 12,1 triệu USD, giảm 17,88% về lượng và giảm 36,85% về trị giá. Thị trường xuất khẩu chủ yếu đứng thứ ba là Malaysia với 15,9 nghìn tấn, trị giá 4,3 triệu USD, tăng 61,97% về lượng và tăng 31,59% về trị giá so với cùng kỳ.
Các số liệu trên cho thấy, công nghiệp khai thác khoáng sản của Việt Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc gia. Tình hình khai thác Do tính chất và mục đích sử dụng của từng nhóm khoáng sản, đối với một số loại khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn, Chính phủ Việt Nam giao cho một số doanh nghiệp nhà nước đảm nhận vai trò nòng cốt, cụ thể như sau: Khai thác và chế biến dầu khí giao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Khai thác và chế biến than và các khoáng sản khác giao cho Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin). Khai thác và chế biến khoáng sản hoá chất (apatit) chủ yếu giao cho Tập đoàn Hoá chất Việt Nam. Khai thác, chế biến quặng sắt chủ yếu do Tổng công ty Thép Việt Nam, Tập đoàn Vinacomin thực hiện.
Khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu giao cho Tổng công ty Xi măng VN và các doanh nghiệp ngành xây dựng, giao thông vận tải thực hiện (ngành khoáng sản VLXD do Bộ Xây dựng quản lý). Ngoài ra tham gia khai thác, chế biến các điểm mỏ khoáng sản quy mô nhỏ ở các địa phương có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần. Tổng số các doanh nghiệp khai khoáng (kể cả vật liệu xây dựng) đến nay khoảng 1. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sản lượng khai thác trên năm một số loại khoáng sản chủ yếu năm 2012 như sau: Dầu thô 16 triệu tấn; than thương phẩm 40 triệu tấn; tinh quặng ilmenite 0,6 triệu tấn, quặng sắt 3,0 triệu tấn; tinh quặng apattit 2,4 triệu tấn; đồng 50 ngàn tấn tinh quặng; barit 150 ngàn tấn bột v.
Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng vai trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất nước. Đã cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liêụ cho nền kinh tế quốc dân như ngành than đã cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu cho ngành điện, xi măng, hoá chất, giấy; khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã cung ứng đủ cho ngành luyện kim; khoáng sản apatit đã cúng cấp đủ cho ngành Hoá chất, phân bón. Đồng thời khoáng sản và sản phẩm chế biến của khoáng sản đã có một phần xuất khẩu. Hai loại khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là dầu khí và than (năm 2012 khoảng 10 tỷ USD).
Ảnh hưởng khai thác khoáng sản tới môi trường ở Việt Nam Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh. Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên, tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường, tích tụ hoặc phát tán chất thải, làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước. Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc. Đặc điểm và các vấn đề môi trƣờng tỉnh Thái Nguyên.
Đặc điểm chung môi trường tỉnh Thái Nguyên Theo đánh giá mới nhất của tỉnh Thái Nguyên, hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn ngày càng gia tăng và khó kiểm soát, tính chất vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng phức tạp, nhiều "điểm nóng" về ô nhiễm môi trường còn tồn tại, gây bức xúc trong dư luận. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua thống kê sơ bộ, hiện mỗi ngày toàn tỉnh thải ra trên 400 tấn chất thải sinh hoạt nhưng số chất thải thu gom, xử lý mới đạt khoảng 36%, riêng lượng chất thải y tế được thu gom, xử lý hợp vệ sinh cũng chỉ đạt gần 50%. Kết quả quan trắc môi trường hàng năm cho thấy: môi trường không khí đã bị ô nhiễm cục bộ, nhất là tại các khu vực: Nhà máy xi măng Núi Voi, Nhà máy xi măng Quang Sơn (huyện Đồng Hỷ), Nhà máy xi măng La Hiên (huyện Võ Nhai).