Đánh giá tác động của hoạt động sản xuất tái chế nhựa đồng thành tới chất lượng môi trường không khí và nước tại xã bích hòa huyện thanh oai thành phố hà nội

Đánh giá chi tiết tác động của hoạt động tái chế nhựa Đồng Thành đến chất lượng không khí và nước tại xã Bích Hòa, Thanh Oai, Hà Nội.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2016

54
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỬ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tái chế nhựa

1.1.1. Trên thế giới

1.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường do tái chế nhựa

1.3. Tổng quan nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường của hoạt động sản xuất nhựa tái chế

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu

2.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa

2.4.3. Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường

2.4.4. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình

3.1.2. Tài nguyên sinh vật

3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thực trạng và quy trình sản xuất, tái chế nhựa tại cơ sở Đồng Thành – xã Bích Hòa – huyện Thanh Oai- tp Hà Nội

4.1.1. Thực trạng sản xuất, tái chế nhựa tại cơ sở Đồng Thành – xã Bích Hòa – huyện Thanh Oai- tp Hà Nội

4.1.2. Quy trình sản xuất, tái chế nhựa tại cơ sở Đồng Thành – xã Bích Hòa – huyện Thanh Oai- tp Hà Nội

4.2. Tác động của hoạt động sản xuất, tái chế nhựa tới chất lượng môi trường không khí tại khu vực nghiên cứu

4.2.1. Nguồn phát sinh khí thải từ hoạt động sản xuất tái chế nhựa

4.2.2. Đặc tính khí thải từ hoạt động sản xuất tái chế nhựa

4.2.3. Tác động tới chất lượng không khí từ hoạt động sản xuất tái chế nhựa

4.3. Tác động của hoạt động sản xuất, tái chế nhựa tới chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu

4.3.1. Nguồn phát sinh nước thải từ hoạt động sản xuất tái chế nhựa

4.3.2. Đặc tính nước thải từ hoạt động sản xuất tái chế nhựa

4.3.3. Tác động tới chất lượng môi trường nước từ hoạt động sản xuất tái chế nhựa

4.4. Đề xuất biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất tái chế nhựa và cải thiện chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực nghiên cứu

4.4.1. Thực trạng công tác quản lý chất thải của công ty

4.4.2. Giải pháp xử lý giảm thiểu khí thải

4.4.3. Giải pháp xử lý giảm thiểu nước thải

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh tái chế nhựa tại Bích Hòa và tác động môi trường

Hoạt động sản xuất tái chế nhựa tại xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai đang là một vấn đề môi trường cấp thiết. Các cơ sở, điển hình là xưởng Đồng Thành, góp phần vào kinh tế địa phương nhưng cũng tạo ra những thách thức lớn. Quá trình tái chế phế liệu nhựa tại đây chủ yếu sử dụng công nghệ lạc hậu, thủ công. Điều này dẫn đến việc phát sinh lượng lớn chất thải không được kiểm soát. Thực trạng môi trường Thanh Oai đang chịu áp lực nặng nề từ các làng nghề. Các báo cáo cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề ngày càng nghiêm trọng. Nguồn phát thải chính bao gồm khí thải từ tái chế nhựa trong quá trình gia nhiệt và nước thải công nghiệp từ công đoạn làm sạch nguyên liệu. Nghiên cứu tại cơ sở Đồng Thành chỉ ra quy trình sản xuất chưa có sự cải tiến, gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng không khí và nguồn nước. Tác động này không chỉ giới hạn trong khu vực sản xuất mà còn lan rộng ra các khu dân cư lân cận, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái địa phương. Vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm đúng mức từ các cơ quan quản lý như UBND huyện Thanh OaiSở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội để tìm ra giải pháp xử lý ô nhiễm bền vững.

1.1. Bối cảnh làng nghề Bích Hòa và ngành tái chế phế liệu nhựa

Xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai từ lâu đã hình thành các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trong đó có ngành tái chế phế liệu nhựa. Ngành này phát triển tự phát, quy mô nhỏ lẻ, tận dụng nguồn lao động địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển này thiếu quy hoạch đồng bộ. Hầu hết các cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu dân cư, sử dụng trang thiết bị thô sơ, lạc hậu. Nguồn nguyên liệu đầu vào là nhựa phế liệu thu gom từ nhiều nơi, không được kiểm soát về chất lượng và thành phần, tiềm ẩn nguy cơ chứa các hóa chất độc hại trong tái chế nhựa. Thực trạng này đặt ra một bài toán kép: vừa phải duy trì sinh kế cho người dân, vừa phải giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề.

1.2. Quy trình sản xuất nhựa tái sinh và các dòng thải chính

Quy trình công nghệ sản xuất nhựa tái sinh tại cơ sở Đồng Thành bao gồm các công đoạn chính: thu gom, phân loại, làm sạch, xay nghiền, phơi khô, tạo hạt và ép đùn. Mỗi công đoạn đều phát sinh các dòng thải đặc thù. Giai đoạn phân loại và làm sạch tạo ra lượng lớn nước thải công nghiệp chứa đất cát, chất bẩn và hóa chất tẩy rửa. Giai đoạn xay nghiền phát sinh bụi và tiếng ồn. Công đoạn tạo hạt và đùn ép, do sử dụng nhiệt độ cao để làm nóng chảy nhựa, đã phát thải ra môi trường các loại khí thải từ tái chế nhựa độc hại như CO, SO2, NO2 và các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs), gây mùi khét nồng nặc. Các sản phẩm lỗi trong quá trình sản xuất được tái chế lại, tạo thành một vòng lặp phát thải liên tục.

II. Phân tích tác động của tái chế nhựa đến môi trường không khí

Chất lượng môi trường không khí tại xã Bích Hòa đang bị suy giảm nghiêm trọng do hoạt động tái chế nhựa. Nguồn gây ô nhiễm chính là khí thải từ tái chế nhựa, phát sinh từ quá trình gia nhiệt, nấu chảy và đùn ép các loại nhựa phế liệu. Khói thải từ các xưởng sản xuất, đặc biệt là cơ sở Đồng Thành, chứa nồng độ cao các chất độc hại. Kết quả quan trắc môi trường cho thấy nhiều chỉ số đã vượt ngưỡng cho phép theo Quy chuẩn Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Ngân (2016) chỉ ra nồng độ SO2 và NO2 tại trung tâm xưởng sản xuất Đồng Thành lần lượt là 12,2 mg/m3 và 10,7 mg/m3, đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Bụi lơ lửng, một thành phần quan trọng của chất lượng không khí PM2.5, cũng ở mức báo động. Tình trạng ô nhiễm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, là nguyên nhân gia tăng các bệnh về đường hô hấp trong khu vực. Người dân địa phương thường xuyên phải sống trong bầu không khí đặc quánh mùi nhựa cháy khét, gây khó chịu và các vấn đề sức khỏe lâu dài.

2.1. Các nguồn phát sinh và đặc tính khí thải độc hại

Khí thải phát sinh từ hai nguồn chính: hoạt động giao thông vận chuyển nguyên vật liệu và quá trình sản xuất trực tiếp. Tuy nhiên, nguồn phát thải nghiêm trọng nhất đến từ công đoạn gia nhiệt nhựa. Khi các loại nhựa như PP, PE, PVC bị đốt nóng chảy, chúng phân hủy và giải phóng các hóa chất độc hại trong tái chế nhựa. Các chất này bao gồm CO, SO2, NO2, và các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs). Đặc tính của các khí thải này là mùi khét nồng, khó chịu, có khả năng phát tán rộng trong không khí, đặc biệt vào những ngày thời tiết oi bức, ảnh hưởng đến một vùng dân cư rộng lớn.

2.2. Kết quả quan trắc nồng độ bụi và khí thải SO2 NO2

Số liệu quan trắc môi trường tại khu vực sản xuất và xung quanh cho thấy mức độ ô nhiễm đáng báo động. Bảng 4, Báo cáo của Đỗ Thị Thúy Ngân, ghi nhận nồng độ bụi lơ lửng trong không khí tại khu vực đường giao thông (M5) là 0,4 g/m3, vượt 1,3 lần QCVN 05:2009/BTNMT. Nồng độ SO2 và NO2 tại cùng vị trí cũng vượt quy chuẩn lần lượt 2 lần và 2,5 lần. Ngay cả tại khu vực dân cư (M6), các chỉ số này vẫn cao hơn ngưỡng cho phép. Điều này chứng tỏ khí thải từ tái chế nhựa không chỉ gây ô nhiễm tại nguồn mà còn khuếch tán, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của người dân.

2.3. Ảnh hưởng của khí thải tới sức khỏe cộng đồng dân cư

Việc tiếp xúc thường xuyên với không khí ô nhiễm chứa bụi mịn và các khí độc hại đã gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng. Các bệnh về đường hô hấp như viêm phế quản, hen suyễn, và các bệnh dị ứng ngày càng gia tăng, đặc biệt ở người già và trẻ em. Mùi khét từ nhựa cháy gây đau đầu, chóng mặt và cảm giác khó thở. Về lâu dài, việc hít phải các hợp chất hữu cơ độc hại có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mãn tính và ung thư, là một mối đe dọa tiềm tàng đối với người dân sinh sống gần khu vực làng nghề Bích Hòa.

III. Đánh giá ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm do tái chế

Hoạt động sản xuất tái chế nhựa tại cơ sở Đồng Thành không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường nước. Nguồn ô nhiễm chính là nước thải công nghiệp phát sinh từ công đoạn rửa nguyên liệu phế liệu và làm mát máy móc. Lượng nước thải này chứa hàm lượng lớn chất rắn lơ lửng, dầu mỡ, hóa chất tẩy rửa, và các tạp chất hữu cơ. Theo khảo sát, nước thải thường không được xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ trước khi xả thẳng ra hệ thống kênh mương chung của xã. Điều này gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt nghiêm trọng. Các chỉ số như BOD5 và COD trong nước mặt tại khu vực đều vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08:2008/BTNMT). Tình trạng này phá hủy hệ sinh thái thủy sinh, gây mùi hôi thối và làm mất mỹ quan. Nguy hiểm hơn, các chất độc hại từ nước mặt có thể thấm xuống các tầng chứa nước, gây ra nguy cơ ô nhiễm nước ngầm, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân trong dài hạn.

3.1. Nguồn gốc và đặc tính của nước thải công nghiệp nhựa

Nước thải công nghiệp từ tái chế nhựa có đặc tính ô nhiễm cao. Nguồn phát sinh chủ yếu từ việc rửa nhựa phế liệu để loại bỏ đất, cát và các tạp chất. Nước thải từ công đoạn này có độ đục cao, chứa nhiều chất rắn lơ lửng (TSS) và các chất hữu cơ khó phân hủy. Các hóa chất như xút, thuốc tẩy được sử dụng trong quá trình làm sạch cũng đi vào dòng thải. Ngoài ra, nước làm mát máy móc tuy ít ô nhiễm hơn nhưng có nhiệt độ cao, khi xả ra môi trường cũng ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Đặc biệt, nguy cơ xuất hiện vi nhựa (microplastics) trong nước thải là rất cao, gây ra mối đe dọa lâu dài cho môi trường và chuỗi thức ăn.

3.2. Phân tích chỉ số ô nhiễm nguồn nước mặt BOD5 COD

Kết quả phân tích mẫu nước tại mương thoát nước gần nhà xưởng (NM1) cho thấy mức độ ô nhiễm nguồn nước mặt rất đáng lo ngại. Theo Bảng 4.6 trong tài liệu gốc, chỉ số COD là 75 mg/l và BOD5 là 40 mg/l, vượt QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1) lần lượt là 2,5 lần và 2,6 lần. Nồng độ pH cũng lên tới 10, vượt ngưỡng cho phép. Các chỉ số này phản ánh lượng chất hữu cơ và chất ô nhiễm hóa học trong nước rất cao, cho thấy nguồn nước đã mất khả năng tự làm sạch và đang trong tình trạng ô nhiễm nặng, không thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu hay thủy sản.

3.3. Nguy cơ ô nhiễm nước ngầm và hệ sinh thái thủy sinh

Tình trạng xả thải không qua xử lý kéo dài tạo ra nguy cơ ô nhiễm nước ngầm. Các chất ô nhiễm từ kênh mương có thể ngấm sâu vào lòng đất, làm ô nhiễm các mạch nước ngầm mà người dân vẫn sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày. Đối với hệ sinh thái thủy sinh, hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước giảm mạnh do quá trình phân hủy chất hữu cơ, cùng với sự hiện diện của các hóa chất độc hại, đã tiêu diệt các loài cá và vi sinh vật bản địa, phá vỡ cân bằng sinh thái. Nguồn nước ô nhiễm cũng ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp của khu vực.

IV. Top các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường tại Bích Hòa

Để giải quyết thực trạng môi trường Thanh Oai tại xã Bích Hòa, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp xử lý ô nhiễm. Về mặt công nghệ, cần đầu tư vào hệ thống xử lý khí thải và nước thải hiện đại. Đối với không khí, phương pháp hấp thụ bằng than hoạt tính hoặc xây dựng hệ thống lọc bụi kiểu túi vải, tháp rửa khí (cyclone ướt) có thể giảm thiểu hiệu quả bụi và các khí độc. Đối với nước, cần xây dựng trạm xử lý nước thải công nghiệp tập trung cho làng nghề, áp dụng công nghệ keo tụ - tạo bông kết hợp với xử lý sinh học. Về quản lý, UBND huyện Thanh OaiSở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát, yêu cầu các cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và có giấy phép xả thải. Cần có lộ trình cụ thể cho việc di dời cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, quy hoạch thành các cụm công nghiệp tập trung có hạ tầng môi trường hoàn chỉnh. Nâng cao nhận thức của chủ cơ sở và cộng đồng về bảo vệ môi trường cũng là một giải pháp quan trọng.

4.1. Phương pháp xử lý khí thải từ tái chế nhựa tiên tiến

Để giảm thiểu khí thải từ tái chế nhựa, các cơ sở cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật. Giải pháp hiệu quả là lắp đặt hệ thống chụp hút khí tại các vị trí máy đùn, máy tạo hạt. Dòng khí thải sau khi thu gom sẽ được dẫn qua hệ thống xử lý. Có thể sử dụng phương pháp hấp thụ bằng than hoạt tính để loại bỏ các hợp chất hữu cơ bay hơi và mùi. Một phương pháp khác là sử dụng tháp rửa khí, nơi khí thải được cho tiếp xúc với dung dịch hấp thụ (như NaOH) để trung hòa các khí axit như SO2. Việc đầu tư vào các hệ thống này giúp giảm thiểu đáng kể tác động tiêu cực đến môi trường không khí xung quanh.

4.2. Công nghệ xử lý nước thải tối ưu cho làng nghề tái chế

Mô hình xử lý nước thải công nghiệp được đề xuất trong nghiên cứu bao gồm nhiều giai đoạn. Ban đầu, nước thải được thu gom vào hố thu và qua song chắn rác để loại bỏ rác thô. Sau đó, nước được bơm vào bể keo tụ - tạo bông, nơi hóa chất được thêm vào để kết dính các hạt cặn lơ lửng thành bông cặn lớn hơn. Các bông cặn này sẽ được lắng tại bể lắng. Nước trong sau lắng tiếp tục được đưa qua bể khử trùng để loại bỏ vi khuẩn gây bệnh trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Bùn thải từ bể lắng cần được thu gom và xử lý đúng quy định. Đây là một giải pháp xử lý ô nhiễm khả thi cho các cơ sở quy mô nhỏ và vừa.

4.3. Vai trò của chính quyền và công tác quan trắc môi trường

Chính quyền địa phương, cụ thể là UBND huyện Thanh Oai, đóng vai trò then chốt trong việc quản lý và giám sát các hoạt động sản xuất. Cần yêu cầu 100% các cơ sở phải tuân thủ Luật Bảo vệ Môi trường, có đầy đủ hồ sơ pháp lý. Hoạt động quan trắc môi trường định kỳ cần được thực hiện bởi các cơ quan chức năng để đánh giá chính xác mức độ ô nhiễm và hiệu quả của các biện pháp giảm thiểu. Kết quả quan trắc phải được công khai minh bạch để người dân cùng giám sát. Việc xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm sẽ tạo tính răn đe, buộc các doanh nghiệp phải có trách nhiệm hơn với môi trường.

V. Thực trạng quản lý kiến nghị cho làng nghề Bích Hòa

Thực tế cho thấy công tác quản lý môi trường tại cơ sở Đồng Thành nói riêng và làng nghề Bích Hòa nói chung còn nhiều bất cập. Mặc dù công ty đã có một số biện pháp như thu gom chất thải rắn, nhưng các hệ thống xử lý khí thải và nước thải quy chuẩn gần như chưa được đầu tư. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng chủ cơ sở còn thiếu hiểu biết và chưa quan tâm đúng mức đến các quy định pháp luật về môi trường. Cụ thể, cơ sở hoạt động nhưng chưa có giấy xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường hay hồ sơ tương đương. Việc thiếu một báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) chi tiết khiến các tác động tiêu cực không được nhận diện và kiểm soát từ đầu. Để phát triển bền vững, cần có những kiến nghị quyết liệt. Trước hết, cần yêu cầu cơ sở hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý môi trường. Về lâu dài, giải pháp tối ưu là xây dựng kế hoạch di dời cơ sở sản xuất ô nhiễm vào các cụm công nghiệp tập trung, nơi có đủ điều kiện về hạ tầng xử lý chất thải, tách biệt khỏi khu dân cư.

5.1. Báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM và thực thi

Việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là yêu cầu bắt buộc đối với các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Tuy nhiên, nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ tại các làng nghề thường bỏ qua quy định này. Tại cơ sở Đồng Thành, việc chưa có các giấy tờ pháp lý môi trường tương đương cho thấy sự buông lỏng trong quản lý. Một bản ĐTM chi tiết sẽ giúp nhận diện tất cả các nguồn thải, dự báo mức độ tác động và đề ra các biện pháp giảm thiểu cụ thể, khả thi. Việc tuân thủ và thực thi các cam kết trong ĐTM là cơ sở để giám sát và bảo vệ môi trường hiệu quả.

5.2. Kiến nghị di dời cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khu tập trung

Giải pháp căn cơ và bền vững nhất cho ô nhiễm môi trường làng nghề là quy hoạch và di dời cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khỏi khu dân cư. Việc hình thành các cụm công nghiệp làng nghề tập trung sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề. Tại đây, có thể đầu tư xây dựng hạ tầng đồng bộ, bao gồm hệ thống cấp nước, thoát nước, và quan trọng nhất là các trạm xử lý nước thải, khí thải tập trung. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí đầu tư cho từng hộ sản xuất mà còn giúp các cơ quan chức năng dễ dàng quản lý, giám sát, và thực hiện công tác quan trắc môi trường một cách hiệu quả, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và bảo vệ môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Đánh giá tác động của hoạt động sản xuất tái chế nhựa đồng thành tới chất lượng môi trường không khí và nước tại xã bích hòa huyện thanh oai thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Dân số thế giới ngày càng tăng đồng thời lƣợng rác thải phát sinh ngày càng nhiều. Vì vậy để giảm thiểu lƣợng rác thải rắn hiện nay, các hoạt động tái chế đang là biện pháp hữu ích, và đặc biệt là đối với chất thải nhựa. Hoạt động này giúp mang lại lợi ích kinh tế và tiết kiệm nguyên vật liệu cho sản xuất các sản phẩm nhựa. Tuy nhiên hiện nay việc tái chế nhựa đang có những tác động xấu đến môi trƣờng và sức khỏe ngƣời dân xung quanh.

Rất nhiều các cơ sở tự phát không chấp hành các biện pháp bảo vệ môi trƣờng đồng thời sự buông lỏng quản lý các hoạt động sản xuất, chất thải, nƣớc thải đã gây nên ô nhiễm môi trƣờng và suy giảm sức khỏe ngƣời lao động và ngƣời dân trong khu vực. Tại Hà Nội hoạt động tái chế phế liệu đã đƣợc thực hiện và phát triển từ nhiều năm qua với nhiều loại nguyên liệu đƣợc thu mua nhƣ giấy vụn, thủy tinh, kim loại. Riêng hoạt động tái chế nhựa có nguồn nguyên nhiên liệu dồi dào nên hình thành nhiều cơ sở tái chế trên địa bàn và các tỉnh khác. Tuy nhiên các cơ sở quy mô còn nhỏ lẻ, trang thiết bị lạc hậu nên đã gây ra nhiều vấn đề nan giải trong bảo vệ môi trƣờng, gây bức xúc trong dân chúng.

Việc tái chế nhựa gây ảnh hƣởng không nhỏ đối với môi trƣờng không khí, nƣớc và sức khỏe con ngƣời. Để đánh giá tác động của hoạt động tái chế nhƣ thế nào tới môi trƣờng tôi xin chọn đề tài: “Đánh giá tác động môi trƣờng của hoạt động sản xuất tái chế nhựa tới môi trƣờng không khí và nƣớc tại cơ sở Đồng Thành- huyện Thanh Oai- tp Hà Nội” và đƣa ra các giải pháp cải thiện môi trƣờng. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan về tái chế nhựa 1.Trên thế giới Nhựa là một hỗn hợp các chất có thành phần hóa học trung bình là 60% C, 7.8% O, 10% tro tính theo phần trăm trọng lƣợng khô. Nhựa là chất bền vững trong môi trƣờng.

Tuy nhiên, khi thải ra môi trƣờng gây tác động xấu tới các nguồn nƣớc, gây cản trở giao thông, mất thẩm mĩ và gây tắc nghẽn các công trình thủy lợi, trạm bơm nƣớc. Tái chế nhựa phế thải là một trong những phƣơng pháp tích cực nhất để giảm tác động tới môi trƣờng Tái chế nhựa là sản phẩm của quá trình sản xuất hoặc chế tạo từ nhựa đã qua sử dụng. Nhựa sau khi sử dụng đƣợc thu gom phân loại ở các cơ sở tái sinh, làm sạch rồi đóng thành kiện hay cắt nhỏ thành dạng vảy. Thông thƣờng có rất ít thông tin về tính chất của nhựa tái chế, do sản phẩm sau tái chế thƣờng khó xác định đƣợc tính chất cũng nhƣ thành phần của vật liệu.

So với các sản phẩm khác, nhựa tái chế là sản phẩm khá mới mẻ và đang ngày càng đƣợc ƣa chuộng, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển do đặc tính thân thiện với môi trƣờng và mục đích tiết kiệm năng lƣợng do có thể tái chế nhựa. Sản lƣợng nhựa tái chế tăng trung bình 11% trong 10 năm qua, là một trong những phân ngành có tăng trƣởng ấn tƣợng nhất trong ngành nhựa thế giới. Các sản phẩm nhựa có thể tái chế hiện nay chủ yếu là sản phẩm của phân ngành bao bì nhựa nhƣ các chai nhựa, bao bì thực phẩm. Trong những năm gần đây, số lƣợng chai nhựa PET tái chế tăng gấp đôi, chiếm 30% tổng lƣợng chai PET đƣợc tiêu thụ trên thế giới.

Đây cũng là tăng trƣởng ấn tƣợng nhất trong các phân khúc bao bì nhựa. Nhu cầu cho nhựa tái chế tại các quốc gia phát triển đang ngày càng cao dẫn tới nhu cầu tăng cho hạt nhựa PET và HDPE, nguyên liệu chính sản xuất nhựa có thể tái chế. Tiêu thụ hạt nhựa PET vƣợt 500,000 tấn trong năm nay và có khả năng vƣợt 600,000 tấn trong các năm tới. Triển vọng tăng trƣởng của nhựa PET tái chế là rất lớn.

Theo cơ quan bảo vệ môi trƣờng của Mỹ (EPA), chai nhựa tái chế chiếm khoảng 2% số lƣợng nhựa tái chế tại Mỹ. Với mục tiêu 25% số nhựa tiêu thụ sẽ đƣợc sản xuất từ nhựa tái chế, thị phần và sản lƣợng chai nhựa PET sẽ càng tăng (trích dac-diem-chung-cua-nganh-nhua-the-gioi-va-viet-nam.html) 2 Ở các quốc gia công nghiệp hóa, ngƣời ta phân biệt rạch ròi công việc tái chế sơ cấp và thứ cấp. Chất thải plastic sơ cấp đƣợc phát sinh trong quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm. Đặc điểm của chất thải sơ cấp là chất lƣợng tốt, có độ tốt, có độ tinh khiết cao, phù hợp với tiêu chuẩn chế tạo sản phẩm nhƣ là nguyên liệu mới ban đầu.

Các kỹ thuật tái chế bao gồm: xay, ép đùn, tạo viên.trong các ngành công nghiệp chế tạo, các viên nhựa này có thể đƣợc sử dụng một mình chúng hoặc thƣờng hơn là trộn với những hạt nhựa mới. Quá trình tái chế các chất thải sơ cấp thành các sản phẩm có đặc điểm tƣơng tự nhƣ quá trình chế tạo sản phẩm ban đầu, đƣợc gọi là tái chế sơ cấp. Quá trình sản xuất các sản phẩm plastic không thể không có chất thải, do đó ngƣời ta thƣờng tiến hành các hoạt động tái chế sơ cấp ngay từ những ngày đầu thành lập các nhà máy sản xuất. Thuật ngữ “ chất thải thứ cấp” bao gồm những chất thải plastic không thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp.

Chúng không tinh khiết, có thể bị nhiễm bẩn, và là hỗn hợp của nhiều loại plastic khác nhau. Quá trình thế tạo lại những hỗn hợp này thƣờng cho sản phẩm là những loại hỗn hợp nhựa có các tính chất cơ học kém, vì các loại plastic thành phần của chúng thƣờng có tính chất rất khác nhau. Do vậy, khả năng chấp nhận của thị trƣờng đối với những sản phẩm này sẽ thấp hơn. Ở các quốc gia công nghiệp hóa, cả hai quá trình tái chế sơ cấp và thứ cấp đều phụ thuộc chặt chẽ vào vốn đầu tƣ, lao động, thiết bị, năng suất sản phẩm để đảm bảo khả năng hoàn vốn cao nhất.

Các quy trình sử dụng trong công nghiệp tái chế plastic cũng giống nhƣ là quy trình đƣợc sử dụng trong quá trình sản xuất các sản phẩm plastic từ nhựa tinh khiết. Nguyên liệu đầu vào là các chất thải plastic từ các nguồn công nghiệp, thƣơng mại và chất thải plastic có nguồn gốc từ gia đình. Công việc phân loại plastic trƣớc khi tái chế thƣờng gặp nhiều khó khăn nhƣng rất quan trọng. Hiện nay cũng đã có nhiều công nghệ phục vụ cho công tác phân loại và làm sạch nhƣng chúng hoạt động không thành công lắm.

Công nghệ tái chế sẽ dễ dàng hơn rất nhiều nếu chất thải plastic đƣợc phân loại trƣớc khi thu gom. Các công nghệ tái chế vẫn đảm bảo tính khả thi về mặt kĩ thuật cũng nhƣ kinh tế vì nhiều lí do, công nghệ tái chế plastic phải mất nhiều thời gian để thiết lập hơn các hoạt động tái chế vật liệu nhƣ giấy và thủy tinh. Mặc dù hoạt động tái chế cũng đã có bề dày lịch sử nhƣng tiềm năng vẫn còn rất khiêm tốn. Hiện nay, lƣợng plastic 3 tái chế so với lƣợng plastic tạo ra vẫn còn rất khiêm tốn.

Theo số liệu của Hiệp hội Plastic châu Âu: năm 1989, Ở Châu Âu lƣợng plastic tái chế chỉ có 840.000 tấn trong khi đó 1.7 triệu tấn plastic thải đƣợc đốt để thu hồi năng lƣợng, 9 triệu tấn plastic đi đến các bãi chôn lấp hoặc đốt mà không thu hồi năng lƣợng. Ở các quốc gia đang phát triển, hoạt động tái chế không phân biệt ranh giới sơ cấp, thứ cấp nhƣ các quốc gia công nghiệp hóa. Mặc dù các ngành công nghiệp sản xuất plastic bản thân nó vẫn tái chế hầu hết chất thải sơ cấp của nó, nhƣng bức tranh tổng thể là toàn bộ chất thải plastic thứ cấp đều có thể tái chế. Ngƣợc lại với các quốc gia công nghiệp hóa, thị trƣờng cho những sản phẩm plastic tái chế chƣa đƣợc phát triển.

Thay vào đó ngƣời ta sản xuất những sản phẩm giống nhƣ trƣớc đây nhƣng vật liệu là plastic tái chế. Dĩ nhiên là chất lƣợng kém hơn và giá thấp hơn. Thị trƣờng các sản phẩm giá rẻ này rất rộng do số lƣợng ngƣời có thu nhập thấp lớn, thị trƣờng chấp nhận những sản phẩm rẻ hơn, chất lƣợng tuy thấp hơn là rất cao. Trong giới những ngƣời có thu nhập thấp, theo thống kê, nhu cầu sử dụng các sản phẩm nhƣ vậy lớn hơn nhiều so với các sản phẩm đắt hơn làm từ nhựa mới.

Tỷ lệ thất nghiệp cao, giá lao động rẻ là những lợi thế cho hoạt động tái chế plastic, các hoạt động thu gom, phân loại rất dễ dàng khả thi về mặt kinh tế. Có rất ít hoặc chƣa có những quy định, tiêu chuẩn chất lƣợng cho những sản phẩm tái chế. Vật liệu tái chế plastic mặc dù không tốt bằng vật liệu nguyên sơ và ở các quốc gia công nghiệp hóa, chất lƣợng của những sản phẩm này có thể không qua các test chất lƣợng tiêu chuẩn, nhƣng ở những quốc gia mức độ công nghiệp hóa ít hơn, các sản phẩm đó vẫn đƣợc chấp nhận. Ở các quốc gia có nền kinh tế kém hơn, các nhà máy plastic lớn thƣờng không tái chế chất thải plastic từ rác thải đô thị.

Dây chuyền sản xuất của họ nhạy cảm với độ nhiễm bẩn của plastic và đồng đều của hạt nhựa, điều đó sẽ làm giảm chất lƣợng sản phẩm của họ. Tuy nhiên các nhà máy lớn này có xu hƣớng tái chế lại chính chất thải plastic của họ. Điều này đảm bảo chất lƣợng về vệ sinh hơn. Các nhựa tái chế sẽ đƣợc trộn với nhựa theo một tỉ lệ nào đó tùy theo yêu cầu của nhà sản xuất.

Ngƣợc lại với các quốc gia công nghiệp hóa, hầu hết plastic đƣợc tái chế với quy mô nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào vật liệu đƣợc tái chế. Các cơ sở sản xuất nhỏ, công nghệ thấp thƣờng tạo ra sản phẩm có chất lƣợng thấp, giá thành rẻ và ngƣời ta cố gắng giảm chi phí bằng cách tiết kiệm chi phí nguyên liệu đầu vào. 4 Công nghệ sử dụng ở các cơ sở về nguyên tắc giống nhƣ các cơ sở công nghiệp quy mô lớn, mặc dù các loại máy móc đã quá đắt và đã đƣợc nâng cao, thay thế các phụ tùng nội địa vào. Ở Việt Nam Trong số 1450 làng nghề đang phát triển ở Việt Nam có một loại hình làng nghề đang phát triển nhanh chóng trong thời gian vài chục năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế nông thôn, đó là các làng nghề tái chế chất thải.

Nhìn chung ở Việt Nam, số lƣợng các làng nghề tái chế nhựa không nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ