CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Định nghĩa Có nhiều định nghĩa về biến đổi khí hậu như sau: Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đối khí hậu (UNFCCC) định nghĩa: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các khoảng thời gian có thể so sánh được” [16]. Theo IPCC (Intergovernmental Panel on Climmate Change – Ủy ban Chính phủ về Biến đổi khí hậu) định nghĩa về biến đổi khí hậu như sau: “Biến đổi khí hậu là những thay đổi của khí hậu có thể xác định được bằng những thay đổi về giá trị trung bình hoặc giá trị của một tham số khí hậu.
Trong đó, giá trị trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn” [17]. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam (2012) thì biến đổi khí hậu được định nghĩa như sau: “Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ” [4].
Các tác động của biến đổi khí hậu trên quy mô toàn cầu Trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ năm 1850 (Hình 1). Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1. Sự thay đổi về nhiệt độ, kéo theo sự thay đổi về lượng mưa (Hình 2). HVTH: Đinh Thị Mỹ Loan 6 GVHD: PGS.
Nguyễn Kim Lợi (a) (b) Hình 1. Sự nóng lên của bề mặt trái đất (a) Nhiệt độ trung bình bề mặt của đất và đại dương toàn cầu giai đoạn từ 1950 đến 2012; (b) Thay đổi quan sát được trong nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901 – 2012 Hình 1. Thay đổi lượng mưa quan sát được hằng năm trên đất Lớp băng bao phủ Greenland và Nam Cực đã mất đi hàng loạt. Trên toàn thế giới các sông băng tiếp tục co lại và vào mùa xuân lượng tuyết phủ trên Bắc băng dương và Bắc bán cầu đã tiếp tục giảm (Hình 1.
Đại dương chiếm hơn 90% năng lượng tích lũy giữa các năm 1971 và 2010. Hầu như chắc chắn rằng phần HVTH: Đinh Thị Mỹ Loan 7 GVHD: PGS. Nguyễn Kim Lợi nước mặt của đại dương (từ 0-700 m sâu) ấm lên trong giai đoạn 1971-2010 (Hình 1.3c), và có khả năng nó đã bắt đầu ấm từ giai đoạn 1870 và 1971. Tốc độ nước biển dâng từ giữa thế kỷ 19 đã lớn hơn so với tốc độ nước biển dâng trung bình trong hai ngàn năm trước đó.
Trong hơn 100 năm từ 1901 đến 2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng 0,19 m [0,17-0,21] (Hình 1. Sự thay đổi khí hậu giai đoạn 1900 – 2012 Ảnh hưởng của con người đã được phát hiện trong sự ấm lên của khí quyển và đại dương, trong những thay đổi trong chu kỳ nước toàn cầu, trong sự sút giảm lượng tuyết và băng, trong sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu và trong những biếng động của một số hiện tượng thời tiết cực đoan. Bằng chứng về ảnh hưởng của con người đã nhiều thêm kể từ báo cáo lần thứ 4 (AR4). Từ giữa thế kỷ 20, ảnh hưởng của các hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự ấm toàn cầu [18].
Các tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam Với hơn 3000 km bờ biển, nằm trong khu vực châu Á gió mùa, hàng năm Việt Nam phải đối mặt với sự hoạt động của bão, xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Tây bắc Thái Bình dương và biển Đông, lại chịu nhiều tác động của loại hình thời HVTH: Đinh Thị Mỹ Loan 8 GVHD: PGS. Nguyễn Kim Lợi tiết phức tạp. Hiện tượng thiên tai khí tượng xảy ra gần như quanh năm trên khắp cả nước. Vì vậy, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã có những tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường… ở Việt Nam.
Trong quá khứ, Việt Nam đã xảy ra hiện tượng biến đổi của khí hậu. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu khoa học đầu ngành Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm từ sau năm 2000. Các công trình nghiên cứu về biến đổi khí hậu cũng đã dần đi vào chiều sâu về bản chất vật lý và những bằng chứng cho thấy sự tác động của nó.
Kết quả của những nghiên cứu này đã cho chúng ta biết khí hậu Việt Nam có những dấu hiệu biến đổi sâu sắc. Khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.50C trên phạm vi cả nước, bên cạnh đó lượng mua có chiều hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam trên lãnh thổ Việt Nam [19]. Từ những kết quả nghiên cứu về sự biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan, có thể rút ra một số nhận định sau: Nhiệt độ cực đại (Tx) trên toàn Việt Nam nhìn chung có xu thế tăng, điển hình là vùng Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ; Nhiệt độ cực tiểu (Tm) cũng có xu thế tăng nhưng với tốc độ nhanh hơn nhiều so với Tx và phù hợp với xu thế chung của BĐKH toàn cầu; Phù hợp với sự gia tăng của nhiệt độ cực đại và cực tiểu, số ngày nắng nóng có xu thế tăng lên và số ngày rét đậm có xu thế giảm đi ở các vùng khí hậu; Độ ẩm tương đối cực tiểu có xu thế tăng lên trên tất cả các vùng khí hậu nhất là trong thời kỳ 1961-1990; Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây. Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng và biến động mạnh, nhất là ở khu vực Miền Trung; HVTH: Đinh Thị Mỹ Loan 9 GVHD: PGS.
Nguyễn Kim Lợi Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng nhưng với mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các nơi trong từng vùng khí hậu; Tần số bão trên Biển Đông có dấu hiệu tăng lên trên các vùng biển phía nam. Tần số bão trên vùng bờ biển Việt Nam cũng có xu thế tăng lên, nhất là trên dải bờ biển Bắc Bộ, Thanh Nghệ Tĩnh và Nam Trung Bộ; Tốc độ gió cực đại không thể hiện xu thế rõ ràng và không nhất quán giữa các vùng khí hậu. Nửa đầu thế kỷ 21, dự tính sự biến đổi của khí hậu tương lai theo hướng tiếp cận tổ hợp đa mô hình và kết quả tính toán được cho thấy nhiệt độ không khí trung bình trên khu vực Việt Nam tăng lên đáng kể, có thể lên tới 0.3ºC/thập kỷ trong giai đoạn 2000-2050, ngoại trừ một phần nhỏ ở khu vực Bắc Trung Bộ [19]. Xu thế tăng mạnh hơn và đồng nhất hơn trên các vùng phía Nam và Tây Bắc Việt Nam.
Lượng mưa dường như cũng cho xu thế tăng lên trên toàn Việt Nam, ngoại trừ vùng Tây Nguyên và một phần Nam Bộ, những nơi mức ý nghĩa 10% của xu thế không được thoả mãn. Xu thế giảm mưa ở miền Bắc và tăng mưa ở phía Nam. Lượng mưa sẽ tăng lên đáng kể ở duyên hải miền Trung. Đây là một điểm đáng chú ý khi đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động ứng phó với thiên tai liên quan đến mưa lớn như lũ lụt, trượt lở đất, xói lở bờ sông, bờ biển,.
Biểu hiện của biến đổi khí hậu đến tỉnh Quảng Nam Nghiên cứu của Trung tâm SEA-START-RC, RCCC-NLU và DRAGON Inst. đã thực hiện đánh giá và dự báo BĐKH tại tỉnh Quảng Nam và cụ thể ở huyện Đông Giang cho thấy: - Nhiệt độ trung bình cao nhất < 280C biến mất khỏi bản đồ khí hậu của tỉnh; nhiệt độ 32 – 340C và > 340C chiếm hầu hết diện tích của tỉnh ở ở giai đoạn 2020- 2040. So với giai đoạn 1990-2010, nhiệt độ trung bình cao nhất tăng lên đáng kể. Ở huyện Đông Giang, nhiệt độ trung bình cao thường ở mức 30 - 320C ở 1990 - 2010 và dự báo thường mức 32 - 340C ở 2020-2040 (Hình 1.
HVTH: Đinh Thị Mỹ Loan 10 GVHD: PGS. Nguyễn Kim Lợi - Nhiệt độ trung bình thấp nhất < 220C thu hẹp diện tích và chiếm một phần nhỏ trên bản đồ khí hậu của tỉnh; nhiệt độ > 240C chiếm hầu hết diện tích của tỉnh ở ở giai đoạn 2020-2040. So với giai đoạn 1990-2010, nhiệt độ trung bình thấp nhất cũng tăng lên đáng kể (Hình 1. - Lượng mưa >4000 mm ở 2020-2040 đã tăng lên so với 1990-2010 và tập trung chủ yếu ở huyện Đông Giang (Hình 1.
So sánh nhiệt độ trung bình cao nhất ở 1990s-2010s và 2020s-2040s Hình 1. So sánh nhiệt độ trung bình thấp ở 1990s-2010s và 2020s-2040s HVTH: Đinh Thị Mỹ Loan 11 GVHD: PGS. Nguyễn Kim Lợi Hình 1. So sánh lượng mưa hằng năm ở 1990s-2010s và 2020s-2040s Vậy, theo nghiên cứu dự báo của Trung tâm SEA-START, Trung tâm Nghiên cứu BĐKH – Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM và Viện DRAGON – Đại học Cần Thơ đã dự báo tỉnh Quảng Nam có ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÍ (GIS) 1.