LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tăng năng suất lao động có ý nghĩa rất lớn, là nhân tố quan trọng để tăng thêm sản phẩm cho xã hội, là cơ sở để hạ thấp giá thành, góp phần nâng cao đời sống nhân dân và tăng tích lũy để phát triển sản xuất. Chỉ có phát triển nhờ vào tăng năng suất mới tăng được khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và có điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, tăng cường hội nhập quốc tế. Ở Việt Nam, từ nhiều năm thuật ngữ “Năng suất – Chất lượng – Hiệu quả” đã trở thành khẩu hiệu ở các nhà máy.
Từ năm 1996, khi Việt Nam tham gia vào Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) thì vai trò và tầm quan trọng của năng suất và cải tiến năng suất càng được nhấn mạnh hơn. Ngày 21 tháng 5 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”. Chương trình nhấn mạnh vào tầm quan trọng “nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa, thúc đẩy ứng dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý tiên tiến và công cụ cải tiến năng suất và chất lượng, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ. Thiết lập vai trò nền tảng của nhà nước đối với các hoạt động nâng cao năng suất và chất lượng, lấy doanh nghiệp làm trung tâm cho các hoạt động cải tiến và đổi mới, nâng cao năng suất, chất lượng”.
Một lần nữa vai trò của nâng cao năng suất được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ngày 1/11/2016 về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu tăng năng suất và khẳng định vai trò của nâng cao năng suất trong phát triển kinh tế, trong đó đề ra mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020: “tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm cao hơn 5,5%”. Quan điểm của Đảng xác định tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trí sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học - công nghệ (KH&CN). Gần đây, Nghị quyết 52 – NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 2 tư đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại cả cơ hội và thách thức.
Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội thông qua nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Đồng thời, Nghị quyết cũng đưa ra mục tiêu năng suất lao động tăng bình quân trên 7%/năm giai đoạn 2021-2025 và tăng bình quân khoảng 7,5%/năm đến năm 2030. Về vai trò của KH&CN, năm 1996, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, trong đó khẳng định “vai trò to lớn của KH&CN trong việc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động – là những yếu tố tác động quan trọng tới sự phát triển kinh tế - xã hội”. Hiến pháp năm 2013 cũng đã nêu rõ: Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Những năm gần đây, được sự đầu tư, phát triển KH&CN, hạ tầng cơ sở cho KH&CN cũng đã được cải thiện như cơ quan làm việc, các phòng thử nghiệm, các cơ sở nghiên cứu khoa học, đầu tư nâng cao trình độ cán bộ… Nhà nước cũng có rất nhiều các chính sách, chương trình liên quan thúc đẩy hoạt động KH&CN, nhưng thường tập trung nhiều hơn vào nghiên cứu và phát triển, tạo ra tri thức mà chưa chú trọng nhiều tới tăng cường, phổ biến và áp dụng tri thức để tạo ra được các giá trị kinh tế, bên cạnh đó, việc quan tâm và đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, đổi mới ở các doanh nghiệp chưa cao, mà đây là khu vực chính đưa các tiến bộ của KH&CN làm gia tăng giá trị. Để tạo ra sự sẵn sàng đầu tư và chuyển biến tích cực cho thúc đẩy các hoạt động KH&CN, vấn đề nhận thức cần đặt lên đầu tiên, không chỉ nhận thức từ các cơ quan quản lý mà gồm cả khối tư nhân ở các thành phần kinh tế - xã hội. Để tạo ra được nhận thức, thì cần làm rõ được vai trò và ý nghĩa thực sự của KH&CN. Vì vậy, câu hỏi quản lý là: Vai trò của tiến bộ công nghệ trong tăng năng suất lao động (NSLĐ) ở Việt Nam như thế nào để định hướng cho các giải pháp thúc đẩy hoạt động KH&CN làm tăng NSLĐ.
Trong các yếu tố đóng góp vào tăng NSLĐ, tiến bộ công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng và về dài hạn thì chính là yếu tố quyết định tăng NSLĐ bền vững. Mặc dù vậy, các nghiên cứu tác động của tiến bộ công nghệ vào tăng NSLĐ ở Việt Nam còn nhiều vấn đề, cả về phương diện số liệu và phương pháp sử dụng, chưa có được các nghiên cứu đầy đủ về phương pháp luận cũng như chưa khai thác hợp lý các dữ liệu 3 thống kê cho mục đích nghiên cứu trên để có các kết quả đáng tin cậy làm cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách. Luận án đặt ra vấn đề nghiên cứu tác động tiến bộ công nghệ và tăng NSLĐ của nền kinh tế Việt Nam nói chung và khối doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng (là khu vực có thể cho thấy những tác động nổi bật của tiến bộ công nghệ vào tăng NSLĐ), qua đó thấy được sự cần thiết thúc đẩy phát triển KH&CN, đồng thời định hướng cho giải pháp thúc đẩy tiến bộ KH&CN nhằm đạt mục tiêu tăng NSLĐ của Việt Nam. Dự kiến nghiên cứu nhằm tới việc ứng dụng phương pháp thông dụng là phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) và phương pháp bao dữ liệu (DEA) để đo lường tiến bộ công nghệ tác động làm tăng NSLĐ trên cơ sở khai thác nguồn dữ liệu thống kê hiện có của Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu Trả lời cho câu hỏi quản lý nêu trên, câu hỏi nghiên cứu sẽ là: - Hiện trạng NSLĐ của Việt Nam đang như thế nào? - Tiến bộ công nghệ tác động như thế nào vào tăng NSLĐ của Việt Nam? - Các gợi ý chính sách từ các kết quả nghiên cứu để thúc đẩy tiến bộ KH&CN đóng góp vào tăng NSLĐ? Để trả lời các câu hỏi trên, nội dung nghiên cứu của luận án sẽ tập trung vào: làm rõ ý nghĩa và cách tiếp cận xử lý số liệu tính NSLĐ; đo lường tiến bộ công nghệ tác động vào tăng NSLĐ dựa trên các dữ liệu thống kê liên quan; phân tích các kết quả để đề xuất các hướng giải pháp thúc đẩy tiến bộ công nghệ nhằm tăng NSLĐ. Mục đích nghiên cứu nhằm tới: - Đánh giá được vai trò và tác động của tiến bộ công nghệ vào tăng NSLĐ của Việt Nam; - Xây dựng được phương pháp xác định tác động của tiến bộ công nghệ vào tăng NSLĐ trong điều kiện dữ liệu thống kê hiện nay của Việt Nam. Mục tiêu cụ thể: - Xử lý số liệu thống kê tính toán chỉ tiêu NSLĐ, tăng NSLĐ của Việt Nam giai đoạn từ 2011 – 2018; - Đưa ra cách tiếp cận xử lý dữ liệu đánh giá tác động của tiến bộ công nghệ vào tăng NSLĐ trong điều kiện dữ liệu thống kê hiện nay của Việt Nam; 4 - Đánh giá được tác động của tiến bộ công nghệ vào tăng NSLĐ của nền kinh tế và khối doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; - Đề xuất các giải pháp thúc đẩy tiến bộ công nghệ nhằm nâng cao NSLĐ dựa trên kết quả phân tích thực trạng. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 3.1 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tính toán tác động của tiến bộ công nghệ vào NSLĐ của Việt Nam từ 2011 đến 2018, khi bắt đầu kế hoạch phát triển kinh tế thập niên 2010 – 2020 và khi bắt đầu chương trình quốc gia nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, trong đó khẳng định vai trò của KH&CN trong thúc đẩy nâng cao NSLĐ.
Khi phân tích năng suất, hiệu quả và tiến bộ công nghệ, luận án sử dụng dữ liệu của ngành kinh tế cấp I. Tuy nhiên, nếu gộp chung các ngành sẽ hạn chế về kết quả ước lượng do các ngành có sự khác biệt lớn về công nghệ sản xuất, do đó, luận án phân tích sâu hơn đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong đó sử dụng dữ liệu khối doanh nghiệp và phân ngành thành 4 cấp độ công nghệ: công nghệ cao, công nghệ trung bình cao, công nghệ trung bình và công nghệ thấp.2 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng chính của đề tài là tính toán tiến bộ công nghệ đóng góp vào tăng NSLĐ dựa trên phương pháp thống kê và mô hình kinh tế lượng phù hợp.3 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích lý thuyết: nghiên cứu tổng hợp lý thuyết để khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết liên quan tới năng suất lao động và yếu tố tác động tới tăng năng suất lao động, từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho luận án nghiên cứu. - Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: được sử dụng để thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn số liệu thống kê, như niên giám thống kê, các số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, các báo cáo của các tổ chức nghiên cứu, số liệu trên website của Tổng cục Thống kê, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan khác. - Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng phương pháp, kỹ thuật thống kê để mô tả dữ liệu, nhận biết được thực trạng, xu hướng của dữ liệu.