CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Một số thiệt hại trong lĩnh vực canh tác lúa tỉnh Quảng Ngãi liên quan đến BĐKH Hàng năm tỉnh Quảng Ngãi luôn bị ảnh hưởng của hạn hán, lũ lụt làm mất đất sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu thống kê thì trong giai đoạn 2001-2010 tổng diện tích đất lúa bị mất đi trong toàn tỉnh do bị sạt lỡ, sa bồi, xâm nhập mặn khoảng 200 ha, bình quân mỗi năm mất khoảng 20 ha.
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới thì trong những năm đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ làm cho lũ lụt, hạn hán ngày càng gia tăng. Như vậy giai đoạn 2011-2020 khả năng mất đất lúa do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ nhiều hơn giai đoạn trước và có tác động đến vấn đề sản xuất lương thực của tỉnh. Năm 2010, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, nền nhiệt độ trung bình cao hơn 1-20C so với năm trước, tình trạng khô hạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi diễn ra gay gắt, đặc biệt là các huyện miền núi. Trên địa bàn huyện Mộ Đức, mực nước tại các hồ chứa: Ông Tới, Lỗ Thùng, Hóc Sằm, Đá Bàn chỉ còn khoảng 28 - 40%, hồ chứa nước Hóc Mít, Mạch Điểu lượng nước trong hồ chỉ đạt khoảng 20 - 26% so với thiết kế.
Hầu hết các hồ chứa nước có dung tích nhỏ hơn 1 triệu mét khối trên địa bàn tỉnh chỉ còn dưới 20% so với dung tích thiết kế và đã có một số hồ chứa xuống dưới mực nước chết. Điển hình như các hồ: Phổ Tinh, Nam Bình, An Phong, Đá Bạc, Phước Tích, Hố Lở (Bình Sơn); hồ Huân Phong (Đức Phổ). Riêng hệ thống công trình Thạch Nham lưu lượng nước đến chỉ đạt khoảng 31 m3/giây. Tình hình khô hạn đã ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp, đặc biệt trong vụ hè thu năm 2010, toàn tỉnh gieo sạ 31.731ha lúa cần phải tưới tiêu, trong khi các hồ lại không đáp ứng được.
Theo thông tin từ Công ty khai thác công trình thủy lợi thì công trình đập dâng Thạch Nham, công trình thuỷ lợi lớn nhất tỉnh, có nhiệm vụ cung cấp nước cho 16.000ha lúa chỉ ở cao trình 18,6m, thấp hơn tràn 0,9m nên lượng nước xả hết công suất chỉ đạt 23m3/s, trong khi nhu cầu nước tưới phải đạt 55m3/s, tức là giảm trên 60%. Trong năm 2010, diện tích bị hạn khoảng 15.000ha là diện tích trồng lúa. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy dưới tác động của BĐKH, Quảng Ngãi đang ngày càng phải hứng chịu nhiều hơn các tác động từ các thiên tai bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, cháy rừng… Chính vì vậy, nếu không có các biện pháp ứng phó hữu hiệu (bao gồm cả giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu), sẽ gây ra những tác động có hại khôn lường cho cuộc sống người dân trong tỉnh nói chung và hoạt động sản xuất nông nghiệp nói riêng, trong đó đặc biệt là lĩnh vực canh tác lúa như: sản lượng, năng suất, chất lượng bị giảm; diện tích thu hẹp, phạm vi ngập mặn, nước lợ gia tăng. Một số nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu lên ngành nông nghiệp 1.
Trên thế giới BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng sinh thái. Nhiều nghiên cứu đã bắt đầu từ các thành phần khí hậu và chủ yếu xuất phát từ sự ấm lên của trái đất (IPCC, 2007, Stern, 2005). Các nghiên cứu này thể hiện ở các khía cạnh sau: Khi nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát sinh, phát triển của cây trồng, vật nuôi làm cho thay đổi về năng suất và sản lượng; Khi nhiệt độ tăng làm cho suy giảm tài nguyên nước, nhiều vùng không có nước và không thể tiếp tục canh tác làm cho diện tích canh tác bị suy giảm; Khi nhiệt độ tăng làm cho băng tan, dẫn đến nhiều vùng đất bị xâm lấn và ngập mặn và không tiếp tục canh tác các loại cây trồng hoặc làm giảm năng suất; Thay đổi về các điều kiện khí hậu sẽ làm suy giảm đa dạng sinh học, làm mất cân bằng sinh thái, đặc biệt là thiên địch và ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cây trồng và phát sinh dịch bệnh; Các hiện tượng thời tiết cực đoan, không theo quy luật như bão sớm, muộn, mưa không đúng mùa sẽ gây khó khăn cho bố trí cơ cấu mùa vụ và gây thiệt hại,. Từ các kết quả nghiên cứu được tổng hợp ở trên cho thấy, tác động của BĐKH đến nông nghiệp là tương đối rõ ràng và đều xuất phát từ các thành phần khí hậu.
Việc giảm thiểu tác động trên sẽ khó khăn hơn nhiều so với việc thích ứng và lựa chọn, cải tiến các công nghệ phù hợp nhằm thích ứng với BĐKH. Tại Việt Nam Cũng giống như các nước trên thế giới, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã tiến 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành nghiên cứu và chỉ ra những tác động của BĐKH đối với nông nghiệp bao gồm: (i) Vấn đề an ninh lương thực không được đảm bảo do suy giảm năng suất cây trồng (Đ. Học, 2009); (ii) thay đổi nguồn nước do nhiều vùng bị cạn kiệt nhưng nhiều vùng lại bị ngập lụt, nước biển dâng (H.Thuần, 2008); (iii) Ảnh hưởng đến hệ sinh thái như mất cân bằng, suy giảm đa dạng sinh học; (iv) hiện tượng thời tiết cực đoan khó dự báo; và (v) rủi ro và các thay đổi khác như thiệt hại đến cơ sở hạ tầng,. Sản xuất nông nghiệp chịu chi phối và nhạy cảm với sự thay đổi về điều kiện thời tiết khí hậu (MARD, 2009, N.
Do vậy thay đổi về điều kiện thời tiết khí hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ cấu mùa vụ, khả năng tích lũy quang hợp và vì thế sẽ làm thay đổi năng suất cây trồng theo hướng bất lợi và làm gia tăng chi phí đầu tư (T. Hơn thế nữa, nước biển dâng, mưa bất thường sẽ gây nên tình trạng ngập lụt cụ bộ và xâm lấn mặn là nguyên nhân gây mất tới 2 triệu ha trong tổng số 4 triệu ha đất trồng lúa, an ninh lương thực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng (Đ. BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài thiên địch do vậy sẽ làm gia tăng dịch bệnh như vàng lùn, rầy nâu, lùn xoắn lá,… gây thiệt hại lớn cho năng suất và chi phí sản xuất (MARD, 2008, T. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở vùng duyên hải miền Trung, có tọa độ địa lý 14032’04” đến 15025’00” vĩ độ Bắc và từ 108014’25” đến 109009’00” độ kinh Đông. - Phía Đông: Giáp biển Đông. - Phía Tây: Giáp tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai.
- Phía Nam: Giáp tỉnh Bình Định. - Phía Bắc: Giáp tỉnh Quảng Nam. Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ngãi Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 515.295,46 ha (theo thống kê đất đai tỉnh Quảng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngãi ngày 01 tháng 01 năm 2011) chiếm 1,7% diện tích tự nhiên của cả nước. Tỉnh Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 1 thành phố, 6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo, với 184 xã, phường, thị trấn.
Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có hệ thống giao thông thuận lợi như đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1A chạy qua tỉnh và tuyến Quốc lộ 24 nối tỉnh Quảng Ngãi với Kon Tum, Tây nguyên, Lào và Đông Bắc Thái Lan, cùng các tuyến giao thông quan trọng khác đã giúp lưu thông hàng hóa, phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế. Quảng Ngãi có bờ biển dài hơn 130 km có nhiều cửa biển lớn như Sa Kỳ, Cửa Đại, Mỹ Á, Sa Huỳnh. Vùng biển Quảng Ngãi là nơi tiếp giáp của hai dòng hải lưu nóng và lạnh nên có lượng phù du phong phú, với diện tích ngư trường tương đối lớn, nguồn hải sản đa dạng. Do có sự lồi lõm, gấp khúc, nhiều mũi đá cứng nhô ra biển, chia cắt bờ thành những vũng, vịnh, đặc biệt có cảng nước sâu Dung Quất.
Cách bờ biển 25 km là đảo Lý Sơn với chiều dài 5,5 km, chiều ngang chỗ rộng nhất là 2,5 km, diện tích trên đảo khoảng 10km2 là nơi tập trung nhiều người dân làm nghề biển. Lý Sơn là đảo tiền tiêu của Tổ quốc có vị trí hết sức quan trọng đối với quốc phòng. Nhìn chung vị trí địa lý của tỉnh Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi cho việc khai thác những thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, tiềm năng về biển, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút vốn đầu tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và Quốc tế, hoà nhập chung vào xu thế phát triển kinh tế của đất nước. Đặc điểm sông ngòi Trên địa bàn tỉnh có 4 con sông lớn chảy qua, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu.
Ngoài ra, còn có nhiều nhánh sông nhỏ là phụ lưu và chi lưu của các con sông chính. Sông ngòi ở Quảng Ngãi đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở phía Tây và chảy ra biển Đông. Đặc điểm chung của các con sông là dòng chảy ngắn, độ dốc cao, lòng sông cạn và hẹp, dòng chảy mạnh, nên về mùa mưa thường gây ra lũ lớn. Về mùa khô thì nước sông rút nhanh, lòng sông cạn, giao thông thuỷ khó khăn.
Tuy nhiên sông ngòi cũng mang lại cho tỉnh một lượng phù sa và nguồn thuỷ năng đáng kể. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sông Trà Bồng: Nằm ở phía Bắc tỉnh, bắt nguồn từ dãy núi phía Tây của huyện Trà Bồng, chảy qua huyện Bình Sơn ra biển tại cửa Sa Cần. Sông dài khoảng 45km, hướng chảy cơ bản từ Tây sang Đông, đoạn cửa sông hướng rẽ hướng Nam- Bắc.
Phần lớn sông chảy qua vùng địa hình rừng núi có độ cao 200-1.300m, phần còn lại chảy trong vùng đồng bằng xen đồi trọc và bãi cát. Phía thượng nguồn của sông Trà Bồng có nhiều phụ lưu gồm nhiều sông suối, đáng kể như suối Nun, suối Cà Đú, sông Trà Bói ở các xã Trà Thủy, Trà Giang. Về tới hạ lưu Đông huyện Bình Sơn có thế đất khá cao, nên sông Trà Bồng không còn chảy xiết như đoạn trên. Nước chảy lờ đờ, như vậy mà khác với sông Vệ và sông Trà Khúc, xưa kia người ta không thể đặt xe nước trên sông Trà Bồng.