Đặt vấn đề Việt Nam là một nước có nền kinh tế phát triển từ lâu đời, trong đó sản xuất nông nghiệp đã trở thành ngành nghề truyền thống và góp phần không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân. Cùng với trồng trọt thì chăn nuôi cũng là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập hiệu quả cao góp phần cải thiện đời sống xã hội của nhiều người lao động trong thời gian qua. Tổng đàn gia cầm của nước ta hiện nay khoảng 100 triệu con, trong đó gà chiếm khoảng 88%, vịt 9%, còn lại là các loại gia cầm khác… Cùng với số lượng lớn thì cơ cấu loài của chăn nuôi gia cầm cũng rất đa dạng, điều này đã đưa ngành chăn nuôi gia cầm lên vị trí thứ nhất trên cả các ngành chăn nuôi khác như: chăn nuôi lợn, chăn nuôi trâu bò … Theo thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Việt Nam là một nước nuôi nhiều gà, đứng hàng thứ 13 thế giới và vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Với nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì ngành nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong lền kinh tế nước ta.
Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về thực phẩm như thịt, trứng. ngày càng cao vì vậy các nhà chăn nuôi gia cầm phải không ngừng áp dụng những tiến bộ vào quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gia cầm góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Nhằm đạt được hiệu quả chăn nuôi có chất lượng tốt, sản lượng cao và hiệu quả kinh tế lớn. Trong những năm gần đây với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Ðảng và Nhà nước, ngành chăn nuôi đã có được sự đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng hiệu quả cao vào sản xuất góp phần vào thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn.
Với những chính sách thuận lợi và phù hợp của nhà 2 nước, nên ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gia cầm với nhiều quy mô. Chăn nuôi gà là một phương hướng phát triển lớn trong phương hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng. Bên cạnh những giống gà và phương thức nuôi truyền thống thì đã xuất hiện những giống gà mới và phương thức nuôi hiện đại, trong số đó thực hiện nuôi gà theo phương thức chuồng kín đang được áp dụng ngày càng rộng rãi. Để đánh giá được sức sống và khả năng thích nghi, có thể đưa ra được lời khuyên cho người chăn nuôi và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi thú y- Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Giáo viên hướng dẫn em tiến hành thực hiện chuyên đề “Đánh giá sức sống và khả năng thích nghi của đàn gà Isa Brown giai đoạn nuôi hậu bị tại xã Khe Mo - Đồng Hỷ - Thái Nguyên”.
Giống gà Isa Brown được nhập về nước ta từ Pháp, năm 1998, do hãng Merial cung cấp, đây là giống gà cho năng suất trứng cao, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi cũng đang được phát triển với nhiều quy mô trang trại lớn đang được tập trung nuôi ở địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài. - Xác định sức sống và khả năng thích nghi của đàn gà Isa Brown nuôi tại xã Khe Mo - Đồng Hỷ - Thái Nguyên. - Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi.
- Hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà hậu bị theo phương thức công nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để khuyến cáo người dân cách nuôi dưỡng và chăm sóc gà có hiệu quả.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học. Đặc điểm sinh học về gia cầm 2. Nguồn gốc và phân loại gia cầm Từ trước đến nay, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về nguồn gốc của gia cầm.
Nhưng người đặt nền móng đều tiên cho việc nghiên cứu gia cầm là Đacuyn. Ông đã có kết luận rằng gà nhà có nguồn gốc từ gà rừng Gallus gallus munghi và Gallus gallus banquyva. Cơ sở khoa học và kết luận tên gà nhà ngày nay có rất nhiều đặc điểm giống gà rừng như : giống nhau về màu lông, cấu tạo giải phẫu các cơ quan, bộ phận của cơ thể, giọng hót, hơn thế nữa là gà Gallus gallus banquyva dễ thuần hóa, con lai giữa gà Banquyva và gà nhà có khả năng sinh sản tốt. Gà được thuần hóa đầu tiên ở Ấn độ, cách đây 5000 năm, sau đó xuất hiện ở Ba Tư, rồi đến Mesopotami.
Trải qua hàng nghìn năm do quá trình chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo cũng như sáng tạo của con người để tạo ra rất nhiều giống gà khác nhau. Theo mục đích sản xuất thì gà được chia thành 3 hướng chính: Gà chuyên trứng: Mục đích cho trứng Gà chuyên thịt: Mục đích là cho thịt Gà kiêm dụng: Vừa cho trứng, vừa cho thịt Theo Nguyễn Văn Thiện, (1996) [13] và nhiều tác giả khác cho biết vị trí sắp xếp của gà trong hệ thống động vật như sau: Giới (Kilgdom): Animal Ngành (Phylum): Chordata Lớp (Class): Aves 4 Bộ (Order):Gallifomes Họ (Family): phasianidae Chủng (Gennus): Gallus Loài (Species): Gallus gallus Ở nước ta hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc của gà, có thể nói nước ta là trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á. Gà rừng được thuần hóa và nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phúc, Hà Bắc, Hà Tây,… cách đây khoảng 3000 năm. Từ giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của gà Ri hiện nay nhân dân ta đã tạo ra nhiều giống gà khác nhau như: gà trọi, gà Mía, gà Hồ, gà Đông Cảo… 2.
Đại cương về cơ thể gia cầm Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại, gia cầm có nhiều đặc điểm giống bò sát, đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, phần thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau mới ấp nở thành gia cầm non. Gia cầm có cường độ trao đổi chất mạnh, thân nhiệt cao (40-42°C), nhờ đó gia cầm sinh trưởng và phát triển nhanh. Gia cầm có đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, sinh dục. Nhưng cấu tạo sinh lý, giải phẫu của gia cầm lại có nhiều điểm khác với gia súc, đặc biết là hệ hô hấp, tiêu hóa và sinh dục.
Đặc điểm sinh trưởng của gia cầm Sinh trưởng là quá trình tăng kích thước, khối lượng của cùng một loại tế bào, mô, cơ quan giúp cho cơ thể lớn lên. Theo Nguyễn Kim Đường, Trần Đình Miên (1975) [9] sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ cho quá trình đồng hóa và dị hóa, sự tăng về chiều cao, chiều dài bề ngang, khối lượng các bộ phận, toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền từ đời trước. 5 Chambers, (1990) [19] định nghĩa: sinh trưởng là quá trình tích lũy các bộ phận trên cơ thể như thịt, xương, da những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sinh trưởng gắn liền với phát dục.
Đó là quá trình thay đổi về chất lượng, là sự tăng và hoàn chỉnh thêm về chức năng hoạt động các bộ phận, cơ quan. Sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ mật thiết, không tách rời nhau mà ảnh hưởng lẫn nhau, là quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể làm cho con vật ngày càng hoàn chỉnh. Sự sinh trưởng, phát dục của gia súc, gia cầm luôn tuân theo quy luật nhất định , đó là quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không đều và quy luật tính chu kỳ. Tính toàn giai đoạn của sinh trưởng biểu hiện dưới hình thức khác nhau.
Theo Nguyễn Ân, (1983) [2] thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống từng cá thể có sự khác nhau. Sự sinh trưởng và phát dục không đồng đều được thể hiện sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trưởng của cơ thể con vật ở từng lứa tuổi. Sự sinh trưởng không đều còn biểu hiện ở từng cơ quan bộ phận: mô cơ, xương… có bộ phận ở thời kỳ phát triển này nhanh nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm. Đứng về khía cạnh sinh học các nhà khoa học cho rằng sự sinh trưởng được xem như là sự tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu tăng trưởng.
Tuy nhiên, tăng trưởng không đồng nghĩa với tăng khối lượng, sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ (theo Nguyễn Thu Quyên, Trần Thanh Vân, 2008 [12]). Theo Nguyễn Kim Đường, Trần Đình Miên, (1975) [9] phát hiện ra quy luật ưu tiên các chất dinh dưỡng đối với sự phát triển của các cơ quan tiêu 6 hóa, tổ chức cơ, tổ chức mỡ, sau khi thừa các chất dinh dưỡng mới cho tích lũy mỡ. Sinh trưởng là quá trình sinh lý phức tạp kéo dài từ lúc trứng được thụ tinh đến khi con vật trưởng thành. Việc đánh giá chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng là một công việc khó khăn phức tạp.
Ngày nay các nhà chọn giống vật nuôi có khuynh hướng sử dụng các phương pháp đơn giản và thực tế. Đó là, xác định khả năng sinh trưởng theo ba hướng: chiều cao, thể tích và khối lượng. Khối lượng cơ thể: Về mặt sinh học sinh trưởng được coi như là quá trình tổng hợp tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Do vậy, có thể lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc, gia cầm.
Khối lượng cơ thể gia cầm là một tính trạng di truyền số lượng. Tính trạng này có hệ số di truyền khá cao và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của giống, loài. Còn theo Branch và Biechel, (1972) [17] thì hệ số di truyền là 4-6.