Đặt vấn đề Nấm tùng nhung (Danh pháp khoa học: Macrocybe crassa) là một loại nấm mới chưa được đưa vào nuôi trồng phổ biến. Nó có nguồn gốc từ Sri Lanka, Ấn Độ (Kerala), Thái Lan và Malaysia. Loại nấm này được đánh giá cao ở Thái Lan nhưng đắt vì thường chỉ có sau mùa mưa. Tuy nhiên, nó có thể được trồng trên mùn cưa của cây cao su (Inyod & cs, 2016).
Ở Việt Nam loại nấm này đã từng được Phạm Ngọc Dương bắt gặp ở vườn quốc gia Cát Tiên. Các mẫu vật mà ông thu được ở Vườn quốc gia Cát Tiên có nhiều đặc điểm hình thái tương đồng với các mẫu vật mà PGS. Lê Xuân Thám thu tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên mẫu thu được có kích thước lớn hơn (Phạm Ngọc Dương, 2010). Đến nay loại nấm này lại tiếp tục được phát hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam bởi nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học (2022).
Loại nấm này được Phạm Ngọc Dương mô tả là có vị ngọt, béo và không độc. Hơn nữa, đây là loài nấm được phát hiện từ tự nhiên Việt Nam, vì thế sẽ có khả năng thích ứng tốt với các điều kiện khí hậu của nước ta hiện nay, đó chính là điểm thuận lợi lớn mà những loài nấm du nhập không dễ có được. Vì vậy nếu được nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ thành công sẽ hứa hẹn là một loài cho giá trị thực phẩm quý, bổ xung vào các loài nấm ăn đang được nuôi trồng hiện nay. Do đó, việc tiến hành tìm ra một môi trường nhân giống tốt có lượng dinh dưỡng vừa phải, tiết kiệm và có thể nhân rộng ở quy mô lớn là một điều hết sức cần thiết.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Bước đầu đánh giá sinh trưởng, phát triển của chủng nấm tùng nhung (Macrocybe crassa) trên các nguồn dinh dưỡng và môi trường nhân giống khác nhau” nhằm góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất để loại nấm này có thể được đưa vào nuôi trồng phổ biến tại Việt Nam. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Khảo sát, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của chủng nấm tùng nhung (Macrocybe crassa) trên các môi trường nhân giống khác nhau 1. Yêu cầu - Xác định được nguồn cung cấp cacbon và hàm lượng cacbon thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của chủng nấm tùng nhung (Macrocybe crassa) trong môi trường nhân giống nấm cấp 1.
- Xác định được nguồn cung cấp nito và hàm lượng nito thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của chủng nấm tùng nhung (Macrocybe crassa) trong môi trường nhân giống nấm cấp 1. - Xác định được nguồn cung cấp khoáng và hàm lượng khoáng thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của chủng nấm tùng nhung (Macrocybe crassa) trong môi trường nhân giống nấm cấp 1. - Đánh giá sự sinh trưởng hệ sợi của chủng nấm tùng nhung trên một số môi trường nhân giống cấp 2 có bổ sung dinh dưỡng 2 Chương II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trên thế giới Nhu cầu thị trường tiêu thụ nấm toàn cầu liên tục tăng mạnh trong nhiều năm trở lại đây. Thị trường nấm toàn cầu năm 2019 ước tính vào khoảng 53,7 tỷ Đô la Mỹ và được dự báo sẽ đạt hơn 86,6 tỷ vào năm 2025. Thêm vào đó phong trào ăn chay do những lo ngại về sức khỏe của việc ăn quá nhiều thực phẩm nguồn gốc động vật cũng làm tăng nhu cầu của những nguồn protein thay thế, trong đó có nấm (Global Mushroom Market (2020 to 2025)).
Theo UNESCO: Ngày nay, đã phát hiện trên 2.000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài có thể ăn được và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm bào ngư, nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm kim châm, nấm đùi gà…, và nấm sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như nấm linh chi, nấm phục linh, nấm vân chi, nấm đầu khỉ…. Có trên 100 quốc gia/ vùng lãnh thổ trồng nấm, sản lượng nấm thế giới đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân 7% - 10%/ năm. Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới (số liệu năm 1994) là: Trung Quốc 2.000 tấn (trong đó Đài Loan 71.800 tấn), chiếm 53,79% tổng sản lượng nấm thế giới, Hoa Kỳ 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản 360.800 tấn, Hàn Quốc 92.000 tấn, Hà Lan 88. Từ năm 2006 đến nay, tốc độ tăng trưởng của thị trường nấm thế giới bình quân đạt 10%/năm.
Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Đức (300 triệu USD), Hoa Kỳ (200 triệu USD), Pháp (140 triệu USD), Nhật Bản (100 triệu USD). Mức tiêu thụ nấm bình quân theo đầu người của Châu Âu, Mỹ, Nhật, Đức khoảng 4,0 - 6,0 kg/người/năm; dự kiến tăng trung bình 3,5%/năm. Tại thị trường châu Âu nấm mỡ chiếm khoảng 80 - 95%, mộc nhĩ khoảng 10 % thị phần. Những năm trước của thế kỷ 20, Mỹ chiếm khoảng 50% thị trường nấm mỡ của thế giới (Công Phiên, 2012).
Sản lượng nấm của một số nước trên thế giới (Đơn vị: tấn) Theo ITC, năm 2010 thế giới nhập khẩu 1,26 triệu tấn, giá trị 3,3 tỷ USD. Trong đó nấm tươi 572 nghìn tấn, giá trị 1,52 tỷ USD; nấm chế biến ăn liền 504 nghìn 3 tấn, giá trị gần 1 tỷ USD, nấm khô 60,6 nghìn tấn, giá trị gần 740 triệu USD. Từ năm 2006 đến 2010 tốc độ tăng trưởng thị trường xuất nhập khẩu nấm khoảng 10%/năm. Xu thế phát triển sản xuất nấm trên thế giới hiện nay đó là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tiên tiến và cơ giới hóa để tạo nên sự tăng trưởng gấp hàng trăm lần, góp phần đưa nghề nấm đi theo xu thế hiện đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa (TS.
Cố Thị Thùy Vân, 2017). Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm ở Việt Nam Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu. Chúng ta đã cơ bản làm chủ được công nghệ nhân giống và sản xuất nấm đối với các loại nấm chủ lực, thị trường tiêu thụ nấm ngày càng rộng mở. Thời gian qua đã có nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh nấm có hiệu quả ở quy mô hộ gia đình, trang trại, gia trại, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nấm.
Sản xuất nấm đang từng bước phát triển theo hướng chuyên nghiệp, quy mô hàng hóa; gắn kết đồng bộ các khâu sản xuất, sơ chế, bảo quản, tiêu thụ. Nhờ vậy đã có nhiều mô hình bền vững, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nông dân. Đồng thời, 4 việc phát triển ngành nấm còn góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất trồng trọt nhờ sử dụng các phụ phẩm của trồng trọt (Nguyễn Hữu Hỉ & cs, 2015). Tuy nhiên, so với các nước sản xuất nấm trong khu vực và thế giới thì sản xuất nấm nước ta còn gặp nhiều hạn chế trong công nghệ, năng suất, chất lượng và sự đa dạng sản phẩm.
Việc sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ nên chưa đảm bảo về số lượng, chất lượng; chưa có sự đầu tư đúng mức cho sơ chế, chế biến, bảo quản. Do đó, chất lượng sản phẩm chưa cao, khó có thể cạnh tranh với một số nước (Nguyễn Hữu Hỉ & cs,2015). Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã hoàn thiện Đề án phát triển nấm ăn và nấm dược liệu đến năm 2020 (Quyết định số: 2690/QĐ-BNN-KHCN, ngày 12/11/2013) - Đến năm 2015: Sản xuất và tiêu thụ đạt khoảng 400.000 tấn nấm các loại, trong đó nội tiêu: 300.000 tấn (75%), xuất khẩu: 100.000 tấn (25%); - Dự kiến đến năm 2020: Sản xuất và tiêu thụ đạt khoảng 1.000 tấn (trong đó: 50% xuất khẩu; 50% tiêu thụ nội địa); giải quyết được 1 triệu việc làm từ nghề sản xuất nấm. Các loại nấm được trồng phổ biến ở Việt Nam: Nước ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hương, nấm sò, nấm linh chi.
Sản lượng nấm cả nước: Theo Nguyễn Hạ Vũ, hàng năm nước ta khoảng 250.000 tấn nấm tươi, kim ngạch xuất khẩu 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch).1 Sản lượng nấm năm 2011 Tên nấm Sản lượng(nghìn tấn) Nấm rơm 64,5 Nấm sò 60 Nấm mỡ 5 Nấm mộc nhĩ 120 Nấm linh chi 0,3 Các loại nấm cao cấp 0,7 (Nguồn: Báo cáo hội nghị nấm tại Đồ Sơn-Hải Phòng, năm 2011) Tình hình xuất khẩu: Nấm xuất khẩu dưới nhiều dạng như nấm muối, nấm hộp, nấm khô của các loại nấm mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm; kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 60 triệu USD, tăng lên 90 triệu USD (năm 2011). Giá nấm rơm muối xuất khẩu tháng 1/ 2009 là 1.299 USD/ tấn, tăng lên 1.790 USD/ tấn (tháng 11/ 2009), hiện nay khoảng 2.000 USD/tấn; nhiều công ty xuất khẩu nấm có uy tín ở các tỉnh phía Nam là West Food Cần Thơ, Vegetexco Hồ Chí Minh, Vegehagi, NutriWorld Đồng Nai. (Minh Huệ, 2012) Trong năm 2009, Việt Nam xuất khẩu nấm sang 31 thị trường: Hoa Kỳ đạt 7,7 triệu USD tang 29,7% so với năm 2008; Italia: 4,4 triệu USD; Pháp, Bỉ và Cộng hòa Séc tăng mạnh lần lượt 151,6%; 156,1%; 269% (Nguyễn Hạ Vũ) Tiềm năng phát triển nghề trồng nấm tại Việt Nam Theo Nguyễn Hữu Đống & cs (2002), Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triển mạnh nghề trồng nấm do: Thứ nhất: Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm rạ, thân gỗ, mùn cưa, bã mía,. các loại phế liệu sau thu hoạch giàu chất cellulose.
Nếu tính trung bình một tấn thóc sẽ cho ra 1,2 tấn rơm rạ khô thì tổng sản lượng rơm rạ trong cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm. Chỉ cần sử dụng 10% số nguyên liệu kể trên để trồng nấm thì sản lượng nấm hằng năm đã đạt tới vài trăm ngàn tấn/năm. 6 Thứ hai: Lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ. Tính trung bình 1 công lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30-40% quỹ thời gian.
Thứ ba:: Điều kiện tự nhiên (về nhiệt độ, độ ẩm.) rất thích hợp cho nấm phát triển. Cả hai nhóm nấm (nhóm ưa nhiệt độ cao: nấm rơm, mộc nhĩ.; nhóm ưa nhiệt độ thấp : nấm mỡ, nấm sò.) ở Việt Nam đều trồng được. Các tỉnh phía Nam tập trung trồng nấm rơm, mộc nhĩ ; các tỉnh phía bắc trồng nấm mỡ, nấm hương, nấm sò. Thứ tư: Vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm rất ít so với vốn đầu tư cho các ngàn sản xuất khác.
Thứ năm: Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp. Một người dân bình thường có thể tiếp thu được công nghệ trồng nấm trong thời gian ngắn.