Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nấm ăn và nấm dược liệu từ lâu đã được ghi nhận là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng với hàm lượng protein thô chiếm từ 8,41% đến 47,42% trọng lượng chất khô, chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu, vitamin, khoáng chất và không chứa cholesterol gây xơ cứng động mạch. Trong số các loài nấm ăn phổ biến, nấm sò (thuộc chi Pleurotus) chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhờ khả năng thích ứng với biên độ sinh thái rộng, thời gian chu kỳ sản xuất tương đối ngắn và đặc biệt là năng lực tiết hệ enzyme ngoại bào phân giải các hợp chất giàu lignocellulose. Việc phát triển nghề trồng nấm sò tại Việt Nam mở ra tiềm năng tận dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp khổng lồ như rơm rạ, mùn cưa, bã mía và bông phế thải, vừa nâng cao giá trị gia tăng kinh tế, vừa giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường nông thôn.

Mặc dù nấm sò đã được đưa vào sản xuất tại nhiều địa phương, thực tế sản xuất cho thấy các chủng giống nấm sò lưu giữ tại các cơ sở nghiên cứu và địa phương có những đặc tính nông sinh học rất khác nhau về tốc độ phát triển hệ sợi, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh, thời gian ra quả thể và năng suất sinh học. Nhiều cơ sở trồng nấm vẫn chưa hoàn thiện quy trình chọn lọc giống phù hợp với từng điều kiện sinh thái cụ thể. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Đánh giá sinh trưởng và phát triển của một số chủng nấm sò nâu đang được lưu giữ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam" được thực hiện nhằm xác định chủng nấm có tiềm năng sinh trưởng tốt, năng suất cao và thích ứng tốt với điều kiện nuôi cấy.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của 5 chủng nấm sò nâu trên môi trường nhân giống cấp 1, cấp 2 và trên giá thể mùn cưa nuôi trồng. Để hoàn thành mục tiêu này, đề tài triển khai ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển hệ sợi của 5 chủng nấm sò trên môi trường nhân giống cấp 1 (Potato Glucose Agar - PGA).
  2. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển hệ sợi của 5 chủng nấm sò trên môi trường nhân giống cấp 2 (cơ chất thóc hạt).
  3. Khảo sát hiệu suất sinh học, các chỉ tiêu hình thái quả thể cấu thành năng suất thực thu và khả năng chống chịu sâu bệnh của 5 chủng nấm trên cơ chất nuôi trồng mùn cưa bổ sung dinh dưỡng.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm 5 chủng nấm sò nâu ký hiệu là P10, P19, P20, P50 và PSI. Các chủng giống gốc này được thu thập, phân lập, bảo quản và lưu giữ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển nấm ăn, nấm dược liệu thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi không gian tại hệ thống phòng thí nghiệm và nhà xưởng nuôi trồng của Viện Nghiên cứu và Phát triển nấm ăn, nấm dược liệu - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; phạm vi thời gian thực hiện kéo dài từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nấm sò nghiên cứu thuộc chi Pleurotus (Fr., 1871), họ Pleurotaceae, bộ Agaricales, lớp Agaricomycotina, ngành Basidiomycota. Về mặt sinh học, nấm sò là loài nấm dị tản hai yếu tố. Bào tử đảm đơn bội nảy mầm hình thành hệ sợi sơ cấp (đơn nhân, không có khóa), khi hai sợi đơn bội tương hợp tiếp xúc sẽ kết hợp chất tế bào tạo thành hệ sợi thứ cấp (song hạch, có mấu khóa điển hình). Khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, hệ sợi song hạch liên kết chặt chẽ để tạo mầm quả thể, phân hóa thành cuống nấm và mũ nấm mang các phiến sinh sản chứa đảm bào tử. Nhờ hệ thống enzyme thủy phân ngoại bào gồm cellulase, hemicellulase, laccase và protease, sợi nấm có thể bẻ gãy các liên kết phức tạp trong polysaccharide tự nhiên của gỗ và phụ phẩm cây trồng để hấp thu dinh dưỡng.

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp thực nghiệm vi sinh học và nông học kinh điển để bố trí ba thí nghiệm tương ứng với ba cấp độ nhân giống và nuôi trồng:

  • Thí nghiệm 1 - Môi trường nhân giống cấp 1: Sử dụng môi trường thạch PGA cải tiến pha chế theo công thức: 200 g giá đỗ, 200 g khoai tây, 17 g agar, 20 g glucose và 1 lít nước cất. Môi trường được khử trùng ở 121°C trong 60 phút, đổ vào đĩa petri (20 - 25 ml/đĩa). Cấy chuyển miếng giống gốc kích thước 0,5 x 0,5 cm vào tâm đĩa trong điều kiện vô trùng. Thí nghiệm bố trí nhắc lại 3 lần, mỗi lần 3 đĩa, tổng cộng 9 đĩa cho mỗi công thức chủng nấm.
  • Thí nghiệm 2 - Môi trường nhân giống cấp 2: Sử dụng môi trường hạt gồm 99% thóc luộc chín nứt 2/3 vỏ kết hợp 1% CaCO3. Hạt sau khi phối trộn được đóng vào chai thủy tinh, nút bông chặt và hấp khử trùng ở 121°C trong 1,5 đến 2 giờ. Sau khi nguội, cấy giống cấp 1 (kích thước 1,5 x 2 cm) tại trung tâm chai. Bố trí thí nghiệm nhắc lại 3 lần, mỗi lần 2 chai, tổng cộng 6 chai cho mỗi chủng.
  • Thí nghiệm 3 - Đánh giá trên môi trường nuôi trồng: Giá thể nuôi trồng phối trộn theo tỷ lệ khối lượng khô gồm 87% mùn cưa (đã ủ ẩm bằng nước vôi 4 kg vôi/1000 lít nước trong 6-10 ngày), 4% cám ngô, 8% cám mạch và 1% CaCO3; độ ẩm đạt 60 - 65%. Hỗn hợp được đóng vào túi nilon chịu nhiệt (19 x 37 cm) với khối lượng 1 kg/bịch, khử trùng nhiệt độ trên 100°C trong 8 - 12 giờ. Cấy giống cấp 2 vào bịch, nuôi ươm sợi và chuyển sang nhà nuôi trồng khi sợi nấm ăn kín đáy bịch. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 3 lần nhắc lại, mỗi lần 5 bịch, tổng cộng 15 bịch cho mỗi chủng giống.

Các chỉ tiêu theo dõi gồm có:

  • Tốc độ mọc của hệ sợi trên môi trường thạch qua công thức $d = \frac{d_1 + d_2}{2}$ (trong đó $d_1, d_2$ là độ dài hai đường chéo phân bố hệ sợi đo sau 3, 5, 7 ngày).
  • Tốc độ mọc của hệ sợi trên giá thể mùn cưa tính bằng công thức $V = \frac{D}{T}$ (với $D$ là chiều dài bịch nguyên liệu ăn kín sợi trắng, $T$ là thời gian mọc tính theo ngày).
  • Mật độ hệ sợi được phân cấp định tính bằng thang điểm dấu cộng (+ đến +++++ trên thạch và + đến +++ trên hạt/mùn cưa).
  • Các chỉ tiêu quả thể: Thời gian xuất hiện mầm quả thể (TGXHMQT), thời gian bắt đầu thu hái (TGBDTH), đường kính (DK) mũ nấm, chiều dài (CD) cuống nấm.
  • Hiệu suất sinh học (HSSH, %) tính theo tỷ lệ giữa tổng khối lượng nấm tươi thu hoạch và khối lượng nguyên liệu khô ban đầu: $$\text{BE} (%) = \frac{\text{Khối lượng nấm thu hoạch}}{\text{Khối lượng nguyên liệu khô}} \times 100$$ Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel và IRRISTAT 5.0 để phân tích phương sai (ANOVA), xác định hệ số biến động (CV%) và sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 5% (LSD 0,05).

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và thực trạng sản xuất nấm ăn trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Trên thế giới, nghề trồng nấm đã cơ giới hóa tại nhiều quốc gia với sản lượng đạt khoảng 25 triệu tấn/năm; sản lượng chi Pleurotus tăng trưởng mạnh từ 875,6 nghìn tấn (năm 1997) lên 6.288 nghìn tấn (năm 2010), trong đó Trung Quốc đóng góp tới 85,7% thị phần. Tại Việt Nam, sản lượng nấm hàng năm đạt khoảng 250.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu 25 - 30 triệu USD, tập trung ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và các tỉnh phía Bắc. Chương này cũng phân tích sâu cấu trúc tế bào, chu trình sống dị tản hai yếu tố, các ngưỡng sinh thái (nhiệt độ sợi mọc tối ưu 20 - 30°C, ẩm độ giá thể 60 - 65%, ẩm độ không khí trên 80%, pH 6,5 - 7, ánh sáng khuếch tán 1000 - 2000 lux ở giai đoạn ra quả thể, CO2 dưới 0,03%) cùng thành phần dinh dưỡng giá trị của nấm sò với 18 loại acid amin và các hoạt chất sinh học quý như lovastatin và pleutorin.

Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương trình bày chi tiết danh mục nguồn giống (P10, P19, P20, P50, PSI), hóa chất thí nghiệm (agar, glucose, CaCO3), nguyên liệu giá thể (khoai tây, giá đỗ, thóc hạt, mùn cưa cao su/gỗ tạp, cám gạo, cám ngô) và thiết bị phục vụ khử trùng, nuôi ươm. Nội dung quy định chuẩn hóa quy trình kỹ thuật chuẩn bị môi trường PGA, phương pháp xử lý và luộc thóc hạt, kỹ thuật ủ mùn cưa và phối trộn cơ chất. Toàn bộ thiết kế thí nghiệm từ khâu bố trí số lần nhắc lại, phương pháp cấy vô trùng trong tủ cấy vi sinh đến các công thức toán học đo đếm tốc độ hệ sợi, chỉ tiêu quả thể và công thức tính hiệu suất sinh học được mô tả rõ ràng, đảm bảo tính lặp lại của thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương tập trung phân tích các dữ liệu thực nghiệm thu được từ ba giai đoạn nghiên cứu:

  1. Đánh giá sinh trưởng hệ sợi trên môi trường nhân giống cấp 1 (PGA): Cả 5 chủng nấm đều phát triển tốt trên đĩa thạch nhưng tốc độ và mật độ sợi khác biệt rõ rệt. Sau 2 ngày nuôi cấy, 4 chủng P10, P19, P20, P50 đều bung sợi màu trắng bông, riêng chủng PSI bung sợi muộn hơn (sau 3 - 4 ngày). Tốc độ phát triển hệ sợi tăng dần từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7.

    Bảng 1: Sinh trưởng hệ sợi của 5 chủng nấm sò nâu trong môi trường nhân giống cấp 1

    Chủng giống Tốc độ sau 3 ngày (mm/ngày) Tốc độ sau 5 ngày (mm/ngày) Tốc độ sau 7 ngày (mm/ngày) Thời gian kín đĩa (ngày) Mật độ hệ sợi Đặc điểm hình thái hệ sợi
    P10 4,32 5,22 5,70 8 ++++ Sợi trắng, đều, hơi bông
    P19 4,42 5,61 5,73 8 +++++ Sợi trắng, đều, dày dặn, bông
    P20 3,87 5,08 5,67 8 +++ Sợi trắng, đều
    P50 3,30 4,41 5,33 9 ++ Sợi trắng, đều, mỏng
    PSI 0,11 0,96 1,52 17 ++++ Ban đầu phát triển rất chậm, sau bông dày
    CV% 7,5 4,3 5,1 - - -
    LSD 0,05 0,44 0,33 0,44 - - -

    Chủng P19 thể hiện ưu thế vượt trội với tốc độ lan sợi trung bình đạt 5,25 mm/ngày (ở kết luận ghi nhận trung bình 5,28 mm/ngày) và mật độ sợi rất dày, phủ kín bề mặt đĩa petri chỉ sau 8 ngày. Chủng PSI có tốc độ sinh trưởng chậm nhất (trung bình 0,86 mm/ngày), cần tới 17 ngày mới phủ kín mặt thạch.

  2. Đánh giá sinh trưởng hệ sợi trên môi trường nhân giống cấp 2 (thóc hạt): Trên cơ chất hạt thóc luộc, cả 5 chủng nấm đều bắt đầu bung sợi sau 5 ngày cấy giống, sợi ăn sâu và phân nhánh đồng đều trong chai thủy tinh, không xuất hiện hiện tượng nhiễm tạp. Giai đoạn từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 13 sau cấy ghi nhận tốc độ sinh trưởng sợi mạnh nhất.

    Bảng 2: Sinh trưởng hệ sợi của 5 chủng nấm sò nâu trong môi trường nhân giống cấp 2

    Chủng giống Chiều dài sợi sau 9 ngày (cm) Chiều dài sợi sau 11 ngày (cm) Chiều dài sợi sau 13 ngày (cm) Thời gian kín chai (ngày) Đặc điểm hệ sợi
    P10 6,00 6,80 7,17 14,00 Sợi trắng, mỏng, hơi bông
    P19 5,63 6,30 6,79 14,50 Sợi trắng, rất mỏng
    P20 5,08 6,01 6,79 14,33 Sợi trắng, dày và rất bông
    P50 5,72 6,03 6,52 14,33 Sợi trắng và dày
    PSI 4,81 5,07 5,63 16,33 Sợi trắng, dày dặn và rất bông
    CV% 7,4 5,3 7,8 - -
    LSD 0,05 0,75 0,59 0,95 - -

    Chủng P10 đạt tốc độ mọc sợi nhanh nhất với trung bình 6,34 mm/ngày và lan kín chai thóc sau 14 ngày. Chủng P19 theo sát với tốc độ 6,23 mm/ngày (kín chai sau 14,5 ngày). Đáng chú ý, hai chủng P20 và P50 có hệ sợi phát triển rất dày, sợi xù và có xu hướng hình thành mầm quả thể sớm ngay trên chai giống cấp 2. Chủng PSI tiếp tục có thời gian ăn kín chai muộn nhất (16,33 ngày) với tốc độ trung bình 5,167 mm/ngày.

  3. Đánh giá sinh trưởng hệ sợi và năng suất trên môi trường nuôi trồng: Khi cấy chuyển vào giá thể mùn cưa, hệ sợi của các chủng nấm sinh trưởng mạnh nhất ở khoảng ngày thứ 19 sau cấy, đan xen tạo thành mạng lưới sợi dày đặc.

    Bảng 3: Tốc độ sinh trưởng hệ sợi của 5 chủng trên giá thể mùn cưa bổ sung dinh dưỡng

    Chủng Sau 7 ngày (mm/ngày) Sau 11 ngày (mm/ngày) Sau 15 ngày (mm/ngày) Sau 19 ngày (mm/ngày) Sau 23 ngày (mm/ngày) Sau 27 ngày (mm/ngày) Ngày kín bịch (ngày)
    P10 4,12 4,76 4,86 5,07 5,10 4,92 29,73
    P19 3,47 4,75 4,93 4,83 4,66 4,50 30,13
    P20 3,11 4,30 4,85 5,23 5,31 5,20 31,27
    P50 3,45 4,72 5,22 5,27 4,95 4,75 31,73
    PSI 3,07 4,14 4,58 4,85 4,81 4,62 31,07
    CV% 5,9 6,4 5,2 3,4 4,0 3,6 4,4
    LSD 0,05 0,37 0,52 0,46 0,31 0,36 0,31 2,45

    Chủng P10 đạt tốc độ lan sợi trung bình cao nhất trên mùn cưa (4,80 mm/ngày) và có thời gian ăn kín bịch nhanh nhất (29,73 ngày). Chủng P50 đạt tốc độ trung bình 4,73 mm/ngày nhưng có mật độ sợi dày hơn P10 ở các giai đoạn giữa. Chủng PSI mọc chậm nhất với tốc độ trung bình 4,35 mm/ngày.

    Bảng 4: Các chỉ tiêu quả thể cấu thành năng suất của 5 chủng trên giá thể nuôi trồng

    Chủng giống TGXHMQT (ngày) TGBDTH (ngày) Đường kính mũ nấm (mm) Chiều dài cuống nấm (mm) Hiệu suất sinh học - HSSH (%)
    P10 42 44 33,58 13,33 32,85
    P19 42 44 28,50 32,33 36,92
    P20 42 44 28,08 25,17 30,11
    P50 44 46 42,58 18,00 23,43
    PSI 42 44 42,80 29,60 24,62

    Về chỉ tiêu quả thể, bốn chủng P10, P19, P20 và PSI đều xuất hiện mầm quả thể sau 42 ngày và cho thu hái đợt đầu sau 44 ngày; riêng chủng P50 xuất hiện mầm sau 44 ngày và thu hoạch sau 46 ngày. Chủng PSI và P50 có kích thước mũ nấm lớn nhất (lần lượt đạt đường kính 42,80 mm và 42,58 mm). Tuy nhiên, xét về hiệu suất sinh học thì chủng P19 dẫn đầu với 36,92%, tiếp theo là P10 đạt 32,85% và P20 đạt 30,11%. Hai chủng có quả thể to là PSI và P50 lại đạt hiệu suất sinh học thấp hơn đáng kể, lần lượt là 24,62% và 23,43%.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng đầy đủ về đặc tính nông học của 5 chủng nấm sò nâu (Pleurotus spp.) đang được lưu giữ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam qua ba cấp độ nuôi cấy. Kết quả thực nghiệm làm nổi bật các phát hiện kỹ thuật sau:

  • Môi trường PGA cải tiến bổ sung nước luộc giá đỗ và khoai tây là môi trường nhân giống cấp 1 tối ưu, giúp sợi nấm bung nhanh sau 2 ngày; trong đó chủng P19 có tốc độ sinh trưởng sợi nhanh nhất (đạt đỉnh 5,73 mm/ngày ở ngày thứ 7, trung bình 5,25 - 5,28 mm/ngày, kín đĩa sau 8 ngày) và mật độ sợi đạt mức cao nhất (+++++).
  • Môi trường thóc luộc nứt hạt phối trộn 1% CaCO3 hoàn toàn phù hợp để nhân giống cấp 2 cho cả 5 chủng nấm với tỷ lệ nhiễm tạp 0%. Chủng P10 đạt tốc độ lan sợi cao nhất (trung bình 6,34 mm/ngày, kín chai sau 14 ngày), trong khi P20 và P50 có hiện tượng hình thành sợi dày, xù bông và xuất hiện xu hướng ra quả thể sớm.
  • Trên giá thể nuôi trồng mùn cưa đóng bịch, chủng P19 đạt hiệu suất sinh học cao nhất (36,92%), theo sau là P10 (32,85%) và P20 (30,11%). Về hình thái học, chủng PSI cho kích thước mũ nấm lớn nhất (đường kính 42,80 mm), còn chủng P50 có khả năng chống chịu sâu bệnh vượt trội so với các chủng còn lại.

Về mặt giải pháp và kiến nghị ứng dụng, tác giả đề xuất:

  • Đưa ba chủng nấm có năng suất sinh học cao gồm P19, P10 và P20 vào cơ cấu nuôi trồng thương phẩm nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, do khả năng đề kháng sâu bệnh của ba chủng này còn yếu, người nuôi trồng chỉ nên bố trí thời vụ ra quả thể tập trung vào giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm nhằm tránh các đợt phát sinh sâu bệnh, đồng thời cần duy trì vệ sinh nhà xưởng, lán trại nghiêm ngặt.
  • Khai thác chủng P50 như một nguồn vật liệu di truyền quý nhờ khả năng kháng sâu bệnh tự nhiên cao, phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về phân lập và tách chiết gen kháng bệnh nhằm chuyển gen hoặc lai tạo với các dòng có hiệu suất sinh học cao như P19 và P10.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc sàng lọc, định danh được đặc tính sinh học chi tiết của từng chủng nấm cụ thể trong tập đoàn giống nấm sò nâu lưu giữ tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Công trình đã lượng hóa được mối tương quan giữa tốc độ sinh trưởng hệ sợi qua các cấp nhân giống với năng suất sinh học thực tế, chứng minh rằng tốc độ mọc sợi nhanh ở cấp 1 và cấp 2 không đồng nghĩa tuyệt đối với việc quả thể có kích thước lớn, nhưng liên quan chặt chẽ đến hiệu suất chuyển hóa cơ chất thành quả thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế khách quan phát sinh trong quá trình thực nghiệm:

  • Thời vụ nuôi trồng thực nghiệm diễn ra trong điều kiện thời tiết mùa vụ có áp lực côn trùng gây hại (đặc biệt là ruồi và sâu bệnh hại nấm), làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức sinh trưởng của quả thể ở các chủng P10, P19, P20 vốn có tính mẫn cảm cao. Điều này khiến số liệu hiệu suất sinh học chưa phản ánh được tối đa tiềm năng năng suất thực tế của giống trong điều kiện kiểm soát dịch hại lý tưởng.
  • Thí nghiệm mới chỉ đánh giá trên một công thức giá thể mùn cưa duy nhất (87% mùn cưa + 4% cám ngô + 8% cám mạch + 1% CaCO3) và nuôi trồng tại một dải nhiệt độ mùa vụ cố định (từ tháng 1 đến tháng 5/2022).

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả kiến nghị bao gồm:

  • Tiếp tục khảo sát sinh trưởng của 5 chủng nấm trên môi trường cấp 1 và cấp 2 dưới các tác động ngoại cảnh khác nhau như các dải nhiệt độ biến thiên và các tỷ lệ carbon/nitơ (C/N) đa dạng để xác định ngưỡng dinh dưỡng tối ưu.
  • Thử nghiệm nuôi trồng các chủng nấm trên các nguồn cơ chất phế phụ phẩm nông nghiệp khác (như rơm rạ, bã mía, thân ngô) và bố trí ở nhiều khung thời vụ khác nhau trong năm.
  • Tiến hành nghiên cứu sinh học phân tử nhằm giải mã, xác định và tách chiết đoạn gen quy định tính kháng sâu bệnh ở chủng P50, làm tiền đề lai tạo giống nấm sò nâu vừa kháng bệnh vừa có hiệu suất sinh học cao.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Công nghệ sinh học, Vi sinh vật học ứng dụng, Khoa học cây trồng và Nông nghiệp công nghệ cao đang tìm kiếm dữ liệu thực nghiệm về công nghệ nuôi trồng nấm ăn.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các trung tâm lưu giữ nguồn gen vi sinh vật, viện nghiên cứu nấm và các cơ sở sản xuất giống nấm thương phẩm cần chuẩn hóa quy trình nhân giống ba cấp.
  • Các chủ trang trại, hợp tác xã sản xuất nấm ăn trong việc lựa chọn chủng giống nấm sò nâu phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, khả năng kiểm soát sâu bệnh và mùa vụ nuôi trồng tại miền Bắc Việt Nam.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất của công trình là bảng dữ liệu chi tiết so sánh tốc độ lan sợi ở từng giai đoạn (ngày thứ 3, 5, 7 trên PGA; ngày thứ 9, 11, 13 trên thóc luộc; ngày thứ 7, 11, 15, 19, 23, 27 trên mùn cưa) cùng bảng các chỉ tiêu cấu thành năng suất quả thể thực nghiệm được phân tích phương sai rõ ràng qua phần mềm IRRISTAT 5.0.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong 5 chủng nấm sò nâu nghiên cứu, chủng nào đạt hiệu suất sinh học cao nhất và đạt bao nhiêu phần trăm? Chủng nấm sò nâu P19 đạt hiệu suất sinh học cao nhất trên giá thể mùn cưa với tỷ lệ 36,92%. Xếp thứ hai là chủng P10 với 32,85% và thứ ba là P20 với 30,11%. Hai chủng PSI và P50 có hiệu suất sinh học thấp hơn, lần lượt đạt 24,62% và 23,43%.

2. Công thức môi trường nhân giống cấp 1 (PGA) và cấp 2 được tác giả pha chế như thế nào? Môi trường nhân giống cấp 1 (PGA) gồm: 200 g giá đỗ, 200 g khoai tây, 17 g agar, 20 g glucose và 1 lít nước, hấp khử trùng ở 121°C trong 60 phút. Môi trường nhân giống cấp 2 sử dụng 99% thóc luộc (luộc cho hạt nứt nở 2/3) phối trộn cùng 1% CaCO3, hấp khử trùng ở 121°C trong 1,5 đến 2 giờ.

3. Tốc độ sinh trưởng của hệ sợi nấm trên đĩa thạch cấp 1 và chai giống cấp 2 nhanh nhất ở chủng nào? Trên môi trường thạch cấp 1, chủng P19 có tốc độ phát triển hệ sợi nhanh nhất, đạt trung bình 5,25 - 5,28 mm/ngày và phủ kín đĩa petri sau 8 ngày. Trên môi trường chai hạt thóc cấp 2, chủng P10 có tốc độ sinh trưởng sợi nhanh nhất với trung bình 6,34 mm/ngày và ăn kín chai sau 14 ngày.

4. Chủng nấm nào có đường kính mũ nấm lớn nhất và chủng nào có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt nhất? Chủng PSI tạo quả thể có đường kính mũ lớn nhất, đạt trung bình 42,80 mm (chiều dài cuống 29,60 mm). Trong khi đó, chủng P50 thể hiện khả năng chống chịu sâu bệnh và côn trùng tốt nhất trong số 5 chủng được khảo nghiệm.

5. Vì sao tác giả khuyến nghị nên nuôi trồng quả thể các chủng P19, P10 và P20 vào khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10? Ba chủng P19, P10 và P20 tuy cho hiệu suất sinh học cao nhưng có nhược điểm là khả năng chống chịu sâu bệnh rất kém, dễ bị ruồi và côn trùng gây hại tấn công. Nuôi trồng quả thể vào giai đoạn tháng 8 đến tháng 10 giúp tránh được các thời điểm bùng phát sâu bệnh mạnh của mùa vụ, từ đó bảo toàn năng suất thu hoạch và giảm thiểu rủi ro kinh tế.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Thảo đã hoàn thành việc đánh giá thực nghiệm toàn diện các chỉ tiêu nông sinh học của 5 chủng nấm sò nâu (P10, P19, P20, P50, PSI) qua ba giai đoạn nhân giống cấp 1, cấp 2 và nuôi trồng trên giá thể mùn cưa. Kết quả nghiên cứu đã định lượng rõ rệt ưu thế của chủng P19 về tốc độ lan sợi cấp 1 và hiệu suất sinh học cao nhất (36,92%), ưu thế mọc sợi của chủng P10 trên môi trường hạt cấp 2, cùng đặc tính chống chịu sâu bệnh vượt trội của chủng P50. Đây là công trình thực nghiệm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, cung cấp luận cứ tin cậy phục vụ công tác tuyển chọn chủng giống, bố trí mùa vụ và định hướng lai tạo giống nấm sò năng suất cao tại Việt Nam.