Chương I: Giới thiệu ⁃ Chương II: Lược khảo tài liệu ⁃ Chương III: Xây dựng mô hình ⁃ Chương IV: Triển khai mô hình ⁃ Chương V: Kết luận và kiến nghị Huỳnh Văn Đấu (MSSV: B1905750) 4 SVTH: Lý Trọng Nguyển (MSSV: B1905801) Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Th.S Trần Thị Thắm CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về Logistics 2.1 Định nghĩa về Logistics Trong một số tài liệu đã đề cập về Logistics được định nghĩa là hậu cần, còn một số khác thì có nghĩa là nhà cung ứng các dịch vụ như chuyển phát giao nhận hàng hóa và dịch vụ kho chứa bãi chứa,… Dưới đây là một số định nghĩa về Logistics: Verma et al. (2014) định nghĩa “Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý dòng trung chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình, sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng”. Theo Lambert et al. (1998), Logistics là sự liên kết với các công ty nhằm cung cấp sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.
Bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Logistics không chỉ gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, nhà bán lẻ và khách hàng (Sunil & Meindl, 2001). Như vậy, có thể thấy định nghĩa về chuỗi cung ứng được phát triển và hoàn thiện theo thời gian. Tóm lại “ Logistics được hiểu là mạng lưới các công ty tham gia vào chuỗi các hoạt động sản xuất và phân phối cần thiết để phục vụ khách hàng cuối cùng.
Cung cấp đúng sản phẩm vào đúng thời điểm với số lượng phù hợp là những mục tiêu thiết yếu của hệ thống chuỗi cung ứng hiệu quả (Beamon et al. Như vậy thì việc quản lý Logistics là một trong những sự điều chỉnh cho cả một tập hợp các hoạt động của nhiều ngành cùng một lúc như: các công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục hải quan, phân phối. SVTH: Huỳnh Văn Đấu (MSSV: B1905750) 5 Lý Trọng Nguyển (MSSV: B1905801) Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Th.S Trần Thị Thắm Bên cạnh đó, Viện Fritz là một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại San Francisco chuyên về Logistics cứu trợ nhân đạo, đã làm việc với một số lượng lớn các nhà hậu cần để phát triển một định nghĩa duy nhất cho Logistics nhân đạo. Hậu cần nhân đạo là quá trình gồm việc lập kế hoạch, thực hiện việc kiểm soát dòng chảy và lưu trữ hàng hóa và vật liệu hiệu quả, tiết kiệm chi phí, cũng như thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ nhầm cho mục giảm bớt đau khổ của những người bị ảnh hưởng.
Quá trình này bao gồm các hoạt động: chuẩn bị, lập kế hoạch, thu mua, vận chuyển, lưu kho, theo dõi và truy xuất nguồn gốc (Thomas & Kopczak, 2005). Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn hội nhập, vai trò của Logistics là một phần rất quan trọng. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ để tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh. Hay nói cách khác trong doanh nghiệp, Logistics là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.2 Vai trò của Logistics ❖ Đối với nền kinh tế thế giới Với sự phát triển sôi động của thị trường toàn cầu hiện nay đã làm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới tăng một cách mạnh mẽ và đương nhiên sẽ kéo theo những nhu cầu mới về vận tải, kho bãi, các dịch vụ phụ trợ,… Vai trò của logistics vì thế cũng ngày càng trở nên quan trọng.
Với việc áp dụng hệ thống logistics toàn cầu đã tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất hàng hóa từ khâu đầu vào của nguyên vật liệu cho tới khâu phân phối sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng, khắc phục được những ảnh hưởng của các yếu tố không gian, thời gian và chi phí sản xuất cho các hoạt động kinh tế quốc tế, nhờ đó các hoạt động này luôn được kết nối với nhau và được thực hiện một cách có hệ thống, đạt hiệu quả cao. Huỳnh Văn Đấu (MSSV: B1905750) 6 SVTH: Lý Trọng Nguyển (MSSV: B1905801) Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Th.S Trần Thị Thắm Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế. Hệ thống logistics có tác dụng như một chiếc cầu nối đưa hàng hóa đến các thị trường mới theo đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Do đó, với sự hỗ trợ của hệ thống logistics, quyền lực của nhiều công ty đã vượt ra khỏi biên giới địa lý của nhiều quốc gia.
Một mặt, các nhà sản xuất kinh doanh có thể chiếm lĩnh thị trường cho sản phẩm của mình, mặt khác, thị trường kinh doanh quốc tế cũng được mở rộng và phát triển. Logistics góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế. Trên thực tế, mỗi giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải sử dụng đến nhiều loại giấy tờ, chứng từ rườm rà, làm tiêu tốn rất nhiều chi phí, chịu ảnh hưởng lớn tới tốc độ và hiệu quả của các hoạt động buôn bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói, không những khắc phục được những yếu điểm đó mà còn nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.
Ngoài ra, sự phát triển của logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông. ❖ Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Đối với mỗi quốc gia thì Logistics có tác động vô cùng ý nghĩa đối với sự cạnh tranh của mỗi quốc gia trong lĩnh vực kinh tế. Ở mỗi quốc gia, mỗi một vùng lãnh thổ thì vị trí địa lý có những đặc điểm về địa hình khác nhau, nguồn tài nguyên khoáng sản khác nhau và có phương thức lao động, tập quán khác nhau, do đó cần phải có sự phân bố, sắp xếp các ngành sản xuất, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế sao cho phù hợp với những điều kiện riêng và tổng thể nhằm phát huy được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Hệ thống logistics đã góp phần vào việc phân bố các Huỳnh Văn Đấu (MSSV: B1905750) 7 SVTH: Lý Trọng Nguyển (MSSV: B1905801) Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Th.S Trần Thị Thắm ngành sản xuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với bất cứ nền kinh tế nào, việc lưu thông phân phối hàng hoá, trao đổi giao lưu thương mại giữa các vùng trong nước với nhau và với nước ngoài luôn là hoạt động thiết yếu. Nếu nó được thông suốt và có sự hiệu quả, thì sẽ góp phần to lớn làm cho các ngành sản xuất phát triển; còn nếu bị ngưng trệ thì sẽ tác động xấu đến toàn bộ sản xuất và đời sống. Khi xem xét ở góc độ tổng thể, ta thấy logistics là mối liên kết kinh tế gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa.
Hoạt động logistics không những làm cho quá trình lưu thông, phân phối được thông suốt, chuẩn xác và an toàn, mà còn giảm được chi phí vận tải. Nhờ đó hàng hoá được đưa đến thị trường một cách nhanh chóng, kịp thời. Người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá một cách thuận tiện, linh hoạt, thỏa mãn nhu cầu của mình. Hiện nay, ở các nước phát triển như Nhật, Mỹ, chi phí logistics chiếm 10-13% GDP; đối với những nước đang phát triển thì khoảng 15% - 20% GDP, Việt Nam là 25% GDP, với nước kém phát triển tỷ lệ này có thể lên đến hơn 30% GDP.
Có thể thấy chi phí logistics chiếm một khoản không nhỏ đối với nền kinh tế, nó tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác. Một khi logistics được phát triển sẽ làm giảm chi phí, đảm bảo về thời gian và chất lượng cho các hoạt động kinh tế khác. Như vậy, logistics là một chuỗi các hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hỗ trợ cho luồng chu chuyển của nhiều giao dịch kinh tế, phân phối hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Do đó, nền kinh tế quốc dân chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng.
❖ Đối với các doanh nghiệp Ngày nay, doanh nghiệp phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt, trong môi trường này doanh nghiệp vừa phải tìm kiếm các nguồn lực để sản xuất và đồng thời tìm kiếm khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đã sản xuất ra. Phương tiện liên kết doanh nghiệp với môi trường hoạt động đó chính là hệ thống logistics. Huỳnh Văn Đấu (MSSV: B1905750) 8 SVTH: Lý Trọng Nguyển (MSSV: B1905801) Chương II: Lược khảo tài liệu CBHD: Th.S Trần Thị Thắm Đối với các doanh nghiệp, logistics là một nhân tố quan trọng bởi nó giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào cho doanh nghiệp một cách hiệu quả. Các kênh logistics vừa cung cấp nguyên liệu thô cho sản xuất, tạo điều kiện phát triển vận tải, vừa cung cấp thành phẩm cho hệ thống phân phối vật chất.
Không những thế, logistics còn cung cấp sự hỗ trợ trên các điểm chuyển giao quyền sở hữu, nhờ đó quá trình từ sản xuất đến phân phối hàng hóa, dịch vụ luôn được tối ưu hóa. Việc giảm chi phí logistics luôn được các nhà quản trị đặt lên hàng đầu trong chương trình giảm tổng chi phí cho doanh nghiệp. Đặc biệt là trong thời gian gần đây khi mà tình hình kinh doanh đã thay đổi với chi phí logistics ngày càng tăng cao do sự bất ổn trong giá xăng dầu và sự tăng lên trong chi phí an ninh. Vì vậy với việc phát triển hệ thống logistics sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn, góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.