CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của sự hài lòng trong công việc của người lao động 1.1 Khái niệm về sự hài lòng Theo nghiên cứu của những người đi trước thì có rất nhiều khái niệm khi nói về sự hài lòng, tuy nhiên vẫn chưa có khái niệm nào là thống nhất. Theo Philip Kotler (2001) sự hài lòng là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ thực tế với những kỳ vọng của người đó. Sự hài lòng là sự phản ứng của con người đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó và sự thể hiện thực sự qua thực tế cảm nhận (Tse và Wilton, 1988). Hay theo Oliver (1997) thì sự hài lòng là sự phản ứng của con người đối với việc được đáp ứng những mong muốn.
Theo từ điển Tiếng Việt, hài lòng là sự thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn, kỳ vọng. Những nhu cầu, mong muốn, kỳ vọng không được thỏa mãn chính là động cơ thôi thúc con người hành động hay có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý. Trên cơ sở các định nghĩa đã nêu, khái niệm hài lòng được hiểu: Sự hài lòng là sự so sánh các kỳ vọng với kinh nghiệm thực tế. Khi kinh nghiệm thực tế cao hơn kỳ vọng của con người thì được coi là thỏa mãn sự hài lòng.2 Khái niệm về sự hài lòng trong công việc Có nhiều định nghĩa khác nhau khi nói về khái niệm sự hài lòng trong công việc được đưa ra với các nhà nghiên cứu.
Sau đây là một số định nghĩa trong số đó. SVTH: Nguyễn Văn Quỳnh 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Quang Thành Theo Hoppock (1935) cho rằng sự hài lòng với công việc là tổng hợp sự hài lòng về tâm sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ. Theo Smith (1983) cho rằng sự hài lòng với công việc chỉ đơn giản là cảm giác mà người lao động cảm nhận về công việc của họ.
Theo Weiss (1967) định nghĩa rằng hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Trong khi Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự hài lòng công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người nhân viên thì độ hài lòng công việc càng cao. Theo Luddy và Nezaam (2005) định nghĩa sự hài lòng công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của nhân viên.
Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự hài lòng công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng bao gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Như vậy, dù có nhiều định nghĩa về sự hài lòng trong công việc nhưng nhìn chung sự hài lòng trong công việc của người lao động được hiểu là trạng thái cảm xúc tích cực như thoải mái, dễ chịu và yêu thích công việc của mình.3 Đặc điểm của sự hài lòng trong công việc Có ba đặc điểm có liên quan đến sự thỏa mãn trong công việc: Thứ nhất, không thể nhìn thấy sự hài lòng trong công việc, nó có thể được suy ra. Nó liên quan đến cảm xúc của một người đối với công việc họ. SVTH: Nguyễn Văn Quỳnh 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hoàng Quang Thành Thứ hai, sự hài lòng trong công việc và thái độ công việc thường đi song hành với nhau. Thái độ tích cực đối với công việc được coi như tương đương với sự hài lòng công việc và thái độ tiêu cực đối với công việc chỉ ra sự không hài lòng công việc. Mặc dù hai thuật ngữ này được sử dụng hoán đổi cho nhau, nhưng có sự khác biệt. Sự hài lòng trong công việc là một tập hợp cụ thể của thái độ.
Thái độ phản ánh cảm xúc của một người đối với tổ chức, với cá nhân và các đối tượng khác. Còn sự hài lòng công việc được đề cập đến thái độ của một người đối với một công việc. Thái độ đề cập đến các khuynh hướng phản ứng còn sự hài lòng liên quan đến các yếu tố hiệu suất. Thái độ là lâu dài còn sự hài lòng là linh hoạt và nó có sự thay đổi.
Nó có thể suy giảm thậm chí nhanh hơn nó phát triển. Vì vậy, các nhà quản lý cần phải liên tục chú ý đến sự hài lòng công việc bởi nó sẽ dẫn dắt đến thái độ và cách thức hành xử của người lao động trong công việc. Thứ ba, sự hài lòng trong công việc thường được quyết định bởi kết quả công việc đối với kỳ vọng như thế nào. Đáp ứng được hay vượt quá mong đợi.
Theo Davis và đồng nghiệp (1985) sự hài lòng trong công việc được liên kết chặt chẽ với hành vi của cá nhân ở nơi làm việc. Điều này có nghĩa là nếu một cá nhân nào đó hài lòng với công việc mà họ đang đảm nhận thì họ sẽ có những hành vi tích cực tại nơi làm việc. Nếu nhân viên làm việc trong tổ chức cảm thấy rằng họ đang làm việc chăm chỉ hơn những người khác nhưng nhận được phần thưởng thấp hơn, được ghi nhận ít hơn thì khả năng cao là họ sẽ không hài lòng và có hành vi tiêu cực đối công việc, với người quản lý và đồng nghiệp. Mặt khác, nếu họ cảm thấy họ được trả lương công bằng và được tổ chức ghi nhận, họ sẽ hài lòng với công việc và thể hiện bằng những hành vi tích cực.4 Vai trò sự hài lòng trong công việc của người lao động Như đã nói ở trên, sự hài lòng của người lao động là cực kỳ quan trọng trong bất kỳ tổ chức nào dù lớn hay nhỏ.
Sự hài lòng có tác dụng với tổ chức lẫn chính bản thân người lao động. Tác dụng của nó tùy thuộc vào mức độ và cường độ của sự hài lòng. Đối với tổ chức Sự hài lòng tác động đến mọi mặt của hoạt động của tổ chức đó. Cụ thể: SVTH: Nguyễn Văn Quỳnh 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hoàng Quang Thành Thứ nhất là gia tăng hiệu suất nhân sự. Người lao động hài lòng với công việc sẽ có thái độ và hành vi tốt hơn, tận tâm, cống hiến và chủ động học hỏi, phát triển trong công việc. Điều này làm gia tăng năng suất tổng thể của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình. Thứ hai là duy trì và ổn định được nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Người lao động hài lòng sẽ có tinh thần gắn bó với doanh nghiệp cao hơn, ít bị giao động bởi những lời mời chào bên ngoài. Bên cạnh đó, người lao động sẽ đề cao lợi ích tập thể bởi khi họ muốn gắn bó là họ sẽ “chăm sóc”, “xây dựng” và “bảo vệ” ngôi nhà chung của mình. Thứ ba, khi người lao động hài lòng với công việc của mình, họ sẽ ứng xử với khách hàng tốt hơn và do đó sự hài lòng của khách hàng cũng lớn hơn. Thứ tư, người lao động sẽ truyền thông hình ảnh doanh nghiệp ra bên ngoài và điều đó giúp công ty thu hút được nhân tài, xây dựng hình ảnh tốt trong con mắt khách hàng và đối tác.
Thứ năm, doanh nghiệp tiết kiệm được kinh phí để tìm kiếm, tuyển dụng và đào tạo ứng viên mới. Thứ sáu, doanh nghiệp giảm thiểu được các sai hỏng trong quá trình làm việc cũng như những rủi ro về mặt quy trình bởi người lao động có trách nhiệm hơn, tâm huyết hơn nên họ luôn nổ lực để làm tốt hơn công việc của mình Đối với người lao động Sự hài lòng trong công việc không chỉ giúp họ gắn bó với doanh nghiệp hơn mà giúp củng cố niềm tin yêu của họ với doanh nghiệp. Người lao động sẽ bắt đầu quan tâm đến công việc của mình thay vì lo lắng về các vấn đề khác, họ cảm thấy có trách nhiệm đối với tổ chức và cố gắng tạo ra kết quả tốt hơn để có được sự đánh giá cao từ công ty. Họ cũng sẽ giao dịch với khách hàng tốt hơn và xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ với họ.
[2] SVTH: Nguyễn Văn Quỳnh 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Quang Thành 1.2 Một số lý thuyết về sự hài lòng trong công việc của người lao động 1.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Nhu cầu tự thể hiện mình Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow Trong hệ thống lý thuyết về quản trị và động viên, thuyết nhu cầu của Abraham Maslow đưa ra năm 1943 được xem là một trong số các lý thuyết quan trọng nhất về quản trị kinh doanh; đặc biệt là được ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị Marketing. Tháp nhu cầu của Maslow được sắp xếp thành năm cấp bậc: Tầng thứ nhất: Nhu cầu sinh lý Ở tầng này thể hiện đây là những nhu cầu cơ bản nhất của con người bao gồm nhu cầu ăn, mặc, ở, không khí,. Trong tổ chức nhu cầu này thể hiện thông qua sự hài lòng về nhiệt độ, không gian, môi trường làm việc, điều kiện trang thiết bị và tiền lương đáp ứng nhu cầu sống của từng cá nhân.
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn Nhu cầu tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nói cách khác là nhu cầu được bảo vệ. Nhu cầu này thể hiện khả năng đáp ứng an toàn về mặt thể chất và tài sản. Trong tổ chức, nhu cầu này được phản ánh thông qua mức độ an toàn trong công việc cũng như tài sản. SVTH: Nguyễn Văn Quỳnh 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hoàng Quang Thành Tầng thứ ba: Nhu cầu xã hội Tiếp theo là nhu cầu về thông tin, giao tiếp, quan hệ giữa người với người, muốn kết bạn, muốn hòa đồng với mọi người trong các hoạt động và được yêu thương.