chương 1.1 Chất lượng dich ve L1. Dich vụ “Có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ Theo Mathe và Shapiro (1993): “Dich vụ là những hoạt động mang tính liên tục nhằm cung cấp những giá trị cho khách hàng trong thời gian dai và được đánh giá cách gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với những sin phẩm hay những chuỗi sản phẩm” Định nghĩa về dich vụ của Phillip Kotler (2003) là định nghĩa khá tổng quát và hoàn chỉnh: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cắp cho bênkia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sin phẩm của nó có thể hay không gắn iễn với một sin phim vật chất" 1.112 Đặc điểm của dịch vụ Lý thuy vi marketing cho rằng dich vụ có một số đặc tinh cơ bản bao gồm: vô hình (iangibiliy), Không tách rồi (inseparabiliy), không đồng nhất (heterogeneity), và tinh không iu trữ (perishability) - Tính vô tình (intangibility): Các dich vụ được xem là sản phẩm vô hình. Không giống những sin phẩm vật chất khác, người sử dụng dich vụ không thể nhìn.
thấy, cân, đo, đong, đếm, thử nghiệm, kiểm ta chất lượng trước khỉ mua, do vậy ho thường tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chúng vé chất lượng dịch vụ thông qua địa điểm, con người, trang thiết bị, tai liệu thông tin, biểu tượng. ma họ cảm nhận, về phía công ty li ắt khó khan trong việc tim hiểu khách hàng nhận thúc như thé nao về dich vụ và chất lượng dịch vụ đó. Khi đổi tượng nộp thuế sử dụng dịch vụ hỗ trợ thuẾ của cơ quan thuế thi họ cũng không biết chắc trước họ sẽ nhận được dich vụ với chất lượng như thé nào, vì vậy nhiệm vụ của nhà cung ứng dich vụ là phải “Vận dụng tất cả những bằng. chứng để "Lâm cho cái vô hình trở thnh cái hw hình”, hay nói cách khác là lâm cho khách hàng cảm nhận được chất lượng dich vụ của minh, = Tính không thé tách rồi (inseparabilip): Dịch vụ được sản xu và tiêu dùng đồng thời hay quá trình tạo dịch vụ cũng là quá trình cung cấp và sử dụng dich vụ, Khách hàng cùng tham gia vào quá trình tạo và cung cấp địch vụ, sự tương túc giữa bên cũng cấp dich vụ và khách hàng là một đặc tinh của kinh doanh dich vụ, điều này có ánh hưởng tới kết quả dịch vụ.
Đối với địch vụ hỗ trợ thuế thì đối tượng nộp thu tham gia vào quả trình tạo ‘va cung cấp dịch vụ thông qua những yêu cầu của doanh nghiệp; doanh nghiệp mô tả những đặc thủ của doanh nghiệp cũng những vướng mắc, yêu cầu cơ quan thu thực hiện các địch vụ hỗ trợ và kiểm tra, cảm nhận, đánh giá việc thực hiện các yêu - Tinh không đồng nhất (heferogeneiy): Các dich vụ được cung cắp không đồng nhất vì phụ thuộc nhiều vào người thực hiện, thời gian, địa điểm và cách thức cung cấp dich vụ đó. Dịch vụ thường được sửa đỗi dé phủ hợp cho mỗi khách hàng hay cho mỗi tình huồng mới, việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ, điều. này có thể được xem là chất lượng không đồng nhất Dich vụ hỗ trợ thuế thể hiện tính chất này rất rõ, vi mức độ tương tác gila người sử dụng và thực hiện cao, mỗi đối tượng nộp thuế khi (ham gia vào quy trình hỗ trợ thuế có thểtiếp xúc với nhiều công chức thuế khác nhau như: chuyên viên chính, chuyên viên, cán , kiểm soát viên hoặc thanh tra viên; các phỏng, ban khác nhau.: cùng một vẫn để hoặc tinh huồng nhưng lượng thông tin đầu vio của đổi tượng nộp thuế cung cắp và năng lực hỗ trợ của cô tự chức thuế khác nhau, cing với những mỗi quan hệ trong quá trình này làm cho khó duy tri được chất lượng đồng. Tôm lại, yêu cầu của đối tượng nộp thu và cách hỗ trợ của mỗi công chức thuế khác nhau, vi thé, việc đòi hỏi chất lượng phục vụ đồng nhất từ đội ngũ công chức thuế của cơ quan thuế sé là một thách thức.
- Tính không lưu trữ (perishability): Dịch vụ không thể được cất giữ rồi sau đó mang ra sử dụng vì quá trình tạo thảnh và sử dụng dịch vụ xảy ra đồng. thời Một dịch vụ sẽ biển mit nếu ta không sử dụng vào thi điểm nó được thực hiện, sau khi một địch vụ được thực hiện xong không một phan nao của địch vụ có. thể phục hồi lai được. Nói cách khác, dich vụ nhạy cảm hơn những hằng héa thông thườn,g trước những thay đôi và sự đa dạng của nhu cầu, Ệ của dịch vụ hỗ trợ thuế la phải nắm bắt, đấp ứng tốt như cầu đa dạng, thay đổi theo đặc thù của từng đối tượng nộp thuế và quan trọng là phải chỉnh xác.
kịp thời, đúng các quy định của pháp luật vẻ thuế, nếu chậm trễ hoặc không chính. xác thì kết quả địch vụ hỗ trợ thuế sẽ không còn ý nghĩa nữa bởi "Sai một ly, đi một dim", kéo theo là hàng loạt các vin dé sẽ vi phạm hoặc ảnh hưởng như: hiểu sai hoặc không thống nhất cách hiểu trong việc thực hiện Luật thuế: việc hạch toán, hoạch định chiến lược kinh doanh, chiến lược tài chính của doanh nghiệp. cũng sẽ bị ảnh hưởng Ngoài ra, theoGhobadian, Speller & Jones, 1993; Groth & Dye, 1990, Zeithaml etal, 1999; dẫn theoThongmasak 2001, dich vụ còn có các đặc tinh sau: - Tính không thé hoàn trả (non-returnable): Dịch vụ không thể hoàn trả lại Tuy nhiên, trong nhiều ngành địch vụ khách hàng, có thể được trả lại tiền nếu Không hai lồng với dịch vụ cung ứng. Trong dich vụ hỗ trợ thuế nêu đối tượng nộp thuế không hài lòng với dịch vụ thi uy tấn của cơ quan thuế hoặc công chức thục hiện cung cấp dich vụ hỗ trợ thuế sẽ bị mắt di hoặc giảm.
9 - Tính không chắc chin trong đáp ứng nhu cầu (Needs-match uncertainty): Các thuộc tinh của dịch vụ kém chắc chắn hơn là sản phẩm hữu hình, điều này dẫn tới dịch vụ khổ dip ứng nhu cầu hơn là sản phẩm hữu hình ‘quan hệ cá nhân (interpersonal): Dịch vụ có khuynh hướng bị anh hưởng bởi quan hệ qua li giữa con người hơn sin phẩm hữu hình vi dich vụ do con người thực hiện. Ví dụ: đối tượng nộp thu đánh giá chất lượng dịch vụ hỗ trợ thuế của cơ quan thuế không chi ở mức độ tha mãn về yêu cầu được đáp ứng mà còn đánh giá cả sự cảm thông, sự chia sẻ đối với đối tượng nộp th ; cách ứng xử, phong cách thực hiện, trang phục. của công chức thuế thực hiện dịch vụ hỗ try thuế - Tính cá nhân (personal): Khách hing thường đánh giá dich vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình. - Tính tâm lý (Psychic) Khi một dich vụ không kịp thời, chính xác làm.
khách hàng không thỏa mãn, bực bội. Tuy nhiên, nếu nhân viên vẫn tỏ ra thân thiện và nhi tỉnh giúp đỡ khách hàng khắc phục sự cỗ thì họ sẽ có khuynh hướng vẫn vai lòng với dich vụ này “Trưởng hợp cơ quan thuế cỏ sự cổ trong cung cấp dịch vụ hỗ trợ thuế, vỉ dự các đường truyền báo cáo điện từ chậm, hoặc phẳn mém xử lý tờ khai bị lỗi, làm nh hưởng đến thời gian nộp bảo cảo của đối tượng nộp thu, nhưng các công chức thuế vẫn tô ra hét sức cảm thông với ho, hét lòng khắc phục sự cố, nhiệt tin hướng dẫn họ nộp bằng phương thức khác, giải quyết tình huồng nhanh chồng thi họ vin vui lòng và đánh gid tốt việc hỗ trợ họ. Chất lượng dich vụ Do những đặc tính của dich vụ như trên, chit lượng dịch vụ rất khó định nghĩa và đo lường so với sin phẩm hữu hình. Nhiều nhà nghiên cứu đã cổ gắng đưa ra một số định nghĩa và cách đo lường chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiễn, do đặc thi của ngành dịch vụ là chất lượng địch vụ được thé hiện trong quá trình tương tác giữa nhân viên công ty dich vụ và khách hàng nên không dé ding đánh giá được chất lượng của quá trình này ‘Theo triết lý kinh doanh của Nhật Bản thi chất lượng là không có lỗi, là phải được làm đúng ngay từ đầu. Edward Deming một trong những chuyên gia hing đầu của Mỹ về chit lượng, định nghĩa rằng: * hắt lượng là tập hợp những đặc tính có thé đo lường. được của sin phẩm và dich vụ phủ hợp với như cầu của khách hằng tai mức chỉ phi Auge thị trường chấp nhận” Lehtinen & Lehtinen (1982) cho rằng: chất lượng dich vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: 1/, Quá tình cung cấp dịch vụ 2/.Kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cho rằng chất lượng dich vụ gồm hai yếu tổ lả: l/Chất tượng kỹ thuật và 2/ Chất lượng chức năng.
Trong đó chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ, còn chất lượng chúc năng cho bit chúng được phục vụ như th nào Hoặc Joseph M.Juran (1995) cho rằng: "Chất lượng là sự phù hợp khi sử dụng, điều này đo người sử dụng đánh giá”. “Theo định nghĩa của Yuksel Ekinsi (2002): "Chất lượng là lim đúng việc phải làm ngay tir đầu va càng ngày cảng tốt hơn”. “Tuy nhiên, mỗi khách hàng đều cỏ nhận thức và như cầu khác nhau nên cảm, nhận về chất lượng dich vụ cũng khác nhau, do đó việc tham gia của khách hàng, ào qui tinh phát ign và dh giáchất lượng dich vụ l rt quan trọng, vì giả chọn định nghĩa chất lượng dich vụ theo Parasuraman và các đồng sự (1985) là "chất lượng dich vụ được định nghĩa đựa trên mức độ nhận thức của khách hàng vẻ ức độ đáp ứng của dich vu".2 Sự hài long 11. Khách hàng Theo Dale, Carol, Glen và Mary (2003) định nghĩa: khách hàng là người mua một sản phẩm hay địch vụ.
Từ “Mua” ở đây được hiểu theonghia rộng, còn có la là yêu cầu được cung cấp án phẩm, dịch vụ Có bai loại khách hàng: bên trong và bên ngoài. Khách hing bên ngoài là những người bên ngoài tổ chức có. «quan hệ với tổ chức và mua cúc sản phẩm hay dich vụ của tổ chức. Khách hing bên trong la các bộ phận chức năng của chính tổ chức còn gọi là khách hàng nội bộ.
Đối tượng của nghiền cứu này là các doanh nghiệp vì thé khái niệm khách hàng trong nghiên cứu này được hiểu khách hang bên ngoài là đối tượng phục vụ của cơ quan thuế 1. Sự hài lông (théa man) của khách hàng “Theo Oliver (1997) định nghĩa sự thỏa mãn của khách hàng là một phản ứng.