CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ Sự HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHÁT LƯỢNG DỊCH vụ TẠI KHÁCH SẠN 1. Co’ sở lý luận về chất lượng dịch vụ trong kinh doanh khách sạn 1. Khái niệm và đặc điếm của dịch vụ trong kinh doanh khách sạn • • • • ” • ỉ. Dịch vụ Hiện nay có rất nhiều khái niệm khách nhau về “dịch vụ”.
Trong kinh tế học, dịch vụ được biết đến tương tự như hàng hóa (phi vật chất). Bao gồm những sản phẩm hữu hình và những sản phẩm dịch vụ. Hiểu theo nghĩa rộng, sản phẩm dịch vụ là một lĩnh vực kinh tế thứ ba thuộc vào nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho các quốc gia, các DN kinh doanh dịch vụ. Ớ nghĩa hẹp hơn, sản phẩm dịch vụ là hoạt động của con người nhằm mang tới những sản phẩm không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất và không dẫn tới sở hữu/chuyển giao quyền sở hữu nhưng đáp ứng nhu cầu về sản xuất, đời sống xã hội.
Theo quan điểm của Paul Lawrence Miner (1998), “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng.” Theo quan điểm của Philip Kotler: “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chú thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” 5 Tựu chung lại, có thê thây dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa DN với khách hàng; Gắn liền với hiệu suất (những tiện ích, giá trị, giá trị gia tăng mà khách hàng cảm nhận sau khi sử dụng dịch vụ); Là quá trình diễn ra theo một trinh tự nhất định gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Trong mỗi giai đoạn này có thể phát sinh những dịch vụ cộng thêm, dịch vụ phụ.
Từ nhừng nội dung trên, có thể rút ra cách hiếu về dịch vụ trong kinh doanh khách sạn là những thứ có giá trị mà khách sạn cung cấp cho người/tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng (ngủ nghỉ, ăn uống, giải trí, tiêu dùng). Khách sạn thu lợi nhuận từ việc cung cấp những giá trị đó. Đặc điểm của dịch vụ trong kinh doanh khách sạn Hiện nay, tổ chức Thương mại thế giới WTO phân loại dịch vụ thành các phân ngành: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ xây dựng và kỹ thuật, dịch vụ phân phối, dịch vụ đào tạo, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, dịch vụ sức khỏe và xã hội, dịch vụ du lịch và liên quan, dịch vụ giải trí văn hóa thể thao, dịch vụ vận tải, dịch vụ khác. • • • 2 • • Như vậy, đối với ngành kinh doanh khách sạn, dịch vụ mà ngành này cung cấp thuộc phân ngành Dịch vụ du lịch và liên quan.
Trên cơ sở cung cấp các dịch vụ (lưu trú, ăn nghỉ, dịch vụ khác) để đáp ứng nhu cầu của khách hàng tại các điểm du lịch, mục đích cuối cùng vẫn là tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư. Sản phẩm của khách sạn: bao gồm hàng hóa và dịch vụ khách sạn cung cấp cho khách hàng kể từ khi họ liên hệ với khách sạn cho tới khi sử dụng dịch vụ và rời khách sạn. Các đặc điểm chung của dịch vụ (chung cho bất kể loại hình dịch vụ nào), bao gồm: (i) Tính vô hình (Thể hiện ở việc đây là hoạt động được thực hiện bởi nhà cung cấp, không thể đong đếm, thống kê, nếm, cảm nhận hay thử trước khi mua). Khách hàng không thể cảm nhận được dịch vụ trước khi được cung cấp dịch vụ.
6 (ii) Tính dị biệt: Nhà cung câp dịch vụ chính là người quyêt định loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Vì thế, sản phẩm dịch vụ mang tính đặc trưng của đơn vị cung cấp. (iii) Tính không thê tách rời: Dịch vụ không thê tách rời khỏi nhà cung câp dịch vụ. Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời.
Sự tương tác giữa bên cung cấp với bên nhận dịch vụ được cho rằng có tác động và ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Khái niệm chât lượng dịch vụ Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiêu khái niệm khác nhau vê chât lượng dịch vụ. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ nếu nhìn nhận ở góc độ nhà sản xuất và góc độ khách hàng là có sự khác nhau. Xem xét ở góc độ nhà sản xuât: Theo tô chức American Society for Quality “Chât lượng thê hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”.
Theo Peter Senge và cộng sự “chât lượng là một quá trình chuyên đôi theo phương thức chúng ta suy nghĩ và làm việc cùng nhau, theo phương thức mà chúng ta đánh giá và ban tặng và theo phương thức mà chúng ta đo lường sự thành công. Tất cả chúng ta phối hợp với nhau thiết kế và vận hành hệ thống giá trị gia tăng đi kèm với kiểm định chất lượng, dịch vụ khách hàng, cải thiện quy trình, mối quan hệ với nhà cung ứng và mối quan hệ tốt với cộng đồng chúng ta đang phục vụ và trong cộng đồng mà chúng ta vận hành với mức tối ưu vì một mục đích chung”. Xem xét ở góc độ khách hàng, một sô khái niệm được đưa ra: Theo Armand Feigenbaum và cộng sự (1994) “chât lượng là quyêt định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng- những yêu cầu này có thể được nêu ra 7 hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chú quan hoặc mang tính chuyên môn - và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”. Theo Zeithaml (1987) cho rằng “chất lượng dịch vụ là một dạng của thái độ và kết quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được”.
Nhóm tác giả Parasuraman và các cộng sự (1991) định nghĩa: chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức cùa khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Thông thường, việc xem xét/phản ánh chất lượng dịch vụ thường gắn với các chỉ tiêu về mức độ tin cậy (khả năng thực hiện dịch vụ đúng thời hạn ngay lần đầu tiên), sự phản hồi, sự đảm bảo (hiểu biết, kinh nghiệm, tay nghề, thái độ với khách hàng), sư cảm thông/ đồng cảm (quan tâm dành cho từng cá nhân khách hàng), yếu tố hữu hình (cơ sở vậy chất, thiết bị, nhân sự của đơn vị cung cấp dịch vụ). Nguyên tắc đánh giá chất lượng dịch vụ sẽ có sự khác nhau phụ thuộc vào loại hình dịch vụ được cung cấp. Parasuraman và cộng sự (1991) nhận định rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thỉ tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ.
Đẻ có được chiến lược chất lượng dịch vụ hiểu quả, cần thiết phải phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi cùa khách hàng. Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Mô đánh giá chất lượng dịch vụ phổ biến hiện nay có thể kể đến như: (i) Mô hình của Gronroos (1984), mô hình này cho rằng chất lượng dịch vụ sẽ được đánh giá trên hai khía cạnh là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng; (ii) mô hình phổ biến hơn cả là mô hinh của hình Parasuraman và cộng sự (1988), mô hình này đề cập đếnđánh giá chất lượng dịch vụ dựa vào 5 khác biệt (khoảng cách). Là sự so sánh giữa giá trị mong đợi/kỳ vọng và giá trị thực tế mà khách hàng cảm nhận được. 8 Mô hình này có tính phô biên nhât vì tính chi tiêt, cụ thê và hệ thông công cụ được kiểm định và cập nhật bởi chính tác giả và đồng nghiệp.
Hệ thống thang đo thang đo chất lượng dịch vụ (SERVQƯAL) được đánh giá theo thành phần chất lượng và bộ thang đo với 22 biến quan sát. Thang đo đã được kiểm định và khẳng định bởi nhiều chuyên gia như Nictecki (1996), Ashok (2006), Nictecki và cộng sự (2000). Parasuraman và cộng sự đã phát triển một bộ đo lường gồm 5 yếu tố được khách hàng đồng nhất xếp loại quan trọng nhất đối với chất lượng dịch vụ, bất kể là lĩnh vực dịch vụ gì đó là: - Phương tiện hữu hình (Tangibles): hình thức bề ngoài của cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự, phương tiện và chất liệu truyền thông. - Độ tin cậy (Reliability): khả năng thực hiện các dịch vụ chính xác và đáng tin cậy.
- Độ phán hồi (Responsiveness): sự sẵn lòng giúp đờ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng. - Sự đảm bảo (Assurance): kiến thức và sự lịch thiệp của nhân viên và khả năng tạo niềm tin và tin cậy của nhân viên đối với khách hàng. - Sự cảm thông (Empathy): sự quan tâm chung và đến từng cá nhân khách hàng. Thang đo này là công cụ chú yếu trong marketing dịch vụ và được nhận định là thang đo đạt độ tin cậy và giá trị.
Thang đo này đo lường chất lượng dựa trên cảm nhận của khách hàng sử dụng dịch vụ và đã được áp dụng trong rất nhiều loại hình dịch vụ khác nhau: khách sạn, bệnh viện, trường học, du lịch, nhà hàng,.Việc phân tích các yếu tố ở cấp độ từng chi tiết có ý nghĩa thực tiễn cao đối với nhà quản trị/quản lý. Tại Việt Nam, thang đo này cũng rất quen thuộc trong lĩnh vực marketing và được ứng dụng phồ biến trong đánh giá chất lượng dịch vụ ngành nhà hàng, khách sạn hoặc siêu thị. 9 Truyên miệng Nhu câu cả nhản Kinh nghiệm quá khứ Hình 1. Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) Khoảng cách thứ nhất là Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng với nhận thức của nhà quản lý.
Đây được coi là khoảng cách khó nhận biết nhất.