Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Kể từ khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP liên tục qua các năm, riêng năm 2018 ước đạt trên 7,02%. Trong bối cảnh hội nhập và công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của các cá nhân quy mô nhỏ ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các đô thị đang phát triển như thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với cá nhân sản xuất kinh doanh (SXKD) vừa là đầu ra sinh lãi chủ yếu của ngân hàng thương mại, vừa là kênh cung ứng vốn quan trọng để người dân mở rộng quy mô sản xuất. Xuất phát từ thực tế thực tập tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam – PGD Tam Kỳ, tác giả lựa chọn đề tài nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm bốn nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tìm hiểu các yếu tố tác động đến cảm nhận của khách hàng về dịch vụ cho vay ngắn hạn SXKD của các ngân hàng thương mại.
  2. Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với cá nhân SXKD tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam – PGD Tam Kỳ.
  3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ cá nhân về sản phẩm dịch vụ "cho vay ngắn hạn SXKD" của Ngân hàng Đông Á – PGD Tam Kỳ.

Đối tượng nghiên cứu là sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với sản phẩm dịch vụ "Cho vay ngắn hạn SXKD" tại Ngân hàng Đông Á – PGD Tam Kỳ.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian: Số liệu thứ cấp giai đoạn 2016 – 2018 từ phía ngân hàng.
  • Không gian: Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam – PGD Tam Kỳ, địa chỉ tại 100 Phan Bội Châu, Phường Tân Thạnh, TP Tam Kỳ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình

Nghiên cứu xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên ba nhóm mô hình chính:

  • Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng (CSI model) theo Lê Văn Huy – Nguyễn Thị Hà My (2007): xác định các nhân tố cấu thành chỉ số hài lòng, bao gồm hình ảnh doanh nghiệp, sự mong đợi, chất lượng cảm nhận về sản phẩm và dịch vụ, giá trị cảm nhận, sự hài lòng, lòng trung thành và sự than phiền.
  • Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985): phân tích khoảng cách giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng qua năm tầng (từ nhận thức quản trị đến cảm nhận thực tế), xác định chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm.
  • Thang đo SERVPERF của Cronin & Taylor (1992): đo lường chất lượng dịch vụ thuần túy theo cảm nhận thực tế (Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận), bao gồm năm thành phần: Tin cậy (reliability), Đáp ứng (responsiveness), Năng lực phục vụ (assurance), Sự cảm thông (empathy) và Phương tiện hữu hình (tangibles).

Khái niệm cá nhân SXKD được xác định theo Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP. Nợ xấu được phân loại theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước (nhóm 3, 4, 5). Lý thuyết chất lượng dịch vụ tham chiếu thêm từ Lehtinen & Lehtinen (1982), Gronroos (1984), Crolin & Taylor (1992), Hurbert (1995), Spreng & Mackoy (1996).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện theo quy trình hai giai đoạn:

Giai đoạn 1 – Nghiên cứu sơ bộ:

  • Định tính: Áp dụng kỹ thuật DELPHI phỏng vấn chuyên gia là nhân viên phòng Khách hàng cá nhân; phỏng vấn sâu n = 5 khách hàng đang sử dụng dịch vụ. Kết quả dùng để xây dựng bộ thang đo.
  • Định lượng sơ bộ: Điều tra thử với bảng câu hỏi n = 15, đánh giá sơ bộ độ tin cậy thang đo và điều chỉnh.

Giai đoạn 2 – Nghiên cứu chính thức:

  • Chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện. Kích cỡ mẫu tính theo công thức xác suất với độ tin cậy 95%, sai số cho phép e = 8,25%, kết quả n = 120, nhiều hơn 4 lần tổng số biến quan sát (28 biến).
  • Xử lý dữ liệu: Phần mềm SPSS; kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận ≥ 0,6), hệ số tương quan biến tổng (loại biến < 0,4); phân tích nhân tố khám phá EFA (factor loading ≥ 0,5; phương sai trích > 50%); hồi quy tuyến tính bội; kiểm định Independent-sample T-test (biến Giới tính, Tình trạng hôn nhân); kiểm định One-way ANOVA (biến Tuổi, Thu nhập hàng tháng); kiểm định phân phối chuẩn (KMO và Bartlett's Test).

Nguồn dữ liệu

Loại dữ liệu Nội dung
Thứ cấp Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2016–2018 từ PGD Tam Kỳ; cơ cấu tổ chức; sách báo, tạp chí, Internet
Sơ cấp Bảng hỏi cấu trúc phát trực tiếp cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ cho vay ngắn hạn SXKD tại PGD Tam Kỳ (n = 120)

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu

Chương này xây dựng toàn bộ khung lý thuyết cho đề tài. Tác giả hệ thống hóa khái niệm cá nhân SXKD theo Nghị định 39/2007/NĐ-CP, đặc điểm, vai trò và phân loại cho vay ngắn hạn đối với nhóm đối tượng này theo ba chiều: phương thức cho vay (từng lần và hạn mức tín dụng), hình thức đảm bảo (có và không có tài sản), ngành nghề (nông nghiệp, xây dựng và ngành khác).

Chương làm rõ khái niệm chất lượng dịch vụ cho vay từ ba giác độ: ngân hàng thương mại, khách hàng và nền kinh tế. Lý thuyết về sự hài lòng được tổng hợp từ nhiều tác giả (Oliver 1997, Tse & Wilton 1998, Philip Kotler 2001) và phân chia thành ba mức độ: không hài lòng, hài lòng và rất hài lòng. Mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng (Spreng & Mackoy 1996) được trình bày như tiền đề lý thuyết cốt lõi.

Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm năm thành phần của SERVPERF tác động đến sự hài lòng, với 28 biến quan sát phân bổ như sau: Đáp ứng (4 biến), Phương tiện hữu hình (4 biến), Tin cậy (5 biến), Đồng cảm (6 biến), Năng lực phục vụ (5 biến) và Sự hài lòng (4 biến). Năm giả thuyết H1–H5 được phát biểu theo hướng mỗi thành phần có quan hệ thuận chiều với sự hài lòng của khách hàng.

Các chỉ tiêu định lượng đánh giá hoạt động cho vay cũng được luận giải gồm: doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ và nợ xấu.

Chương II: Đánh giá hiệu quả và sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ cho vay ngắn hạn đối với cá nhân phục vụ SXKD tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam – PGD Tam Kỳ

Khái quát về ngân hàng: PGD Tam Kỳ được thành lập tháng 03/2006, trực thuộc Ngân hàng TMCP Đông Á, với tổng số 11 cán bộ công nhân viên. Cơ cấu tổ chức gồm ba bộ phận: Phát triển kinh doanh (PTKD), Vận hành và Quản lý tín dụng – Dịch vụ ngân hàng – Ngân quỹ. Số liệu tổng hợp 3 năm cho thấy lợi nhuận trước thuế tăng 19,06% (2014/2013) và 11,74% (2015/2014); lợi nhuận sau thuế tăng 23,06% (2014/2013) và 28,02% (2015/2014).

Thực trạng cho vay ngắn hạn đối với cá nhân SXKD giai đoạn 2016–2018:

Chỉ tiêu 2016 2017 2018 Nhận xét
Tỷ trọng DSCV ngắn hạn cá nhân SXKD / tổng DSCV 88,43% 82,31% 65,63% Giảm dần
Doanh số cho vay cá nhân SXKD 28.719 tr.đ Tăng 17,11% 31.278 tr.đ (giảm 7% so 2017) Tăng rồi giảm
Dư nợ cá nhân SXKD 32.635 tr.đ 44.416 tr.đ (+36,1%) 51.316 tr.đ (+15,53%) Tăng liên tục
Nợ xấu cá nhân SXKD 47 tr.đ 93 tr.đ (+97,87%) 89 tr.đ (−4,3%) Tăng mạnh 2017, giảm nhẹ 2018
Tỷ lệ nợ xấu / tổng nợ xấu PGD 26,86% 42,66% 29,87% Biến động

Theo phương thức cho vay, cho vay từng lần chiếm tỷ trọng cao hơn cho vay theo hạn mức tín dụng trong cả ba năm. Năm 2017, doanh số cho vay từng lần đạt 23.928 triệu đồng (71,14% tổng DSCV ngắn hạn cá nhân SXKD), tăng 26,76% so với năm 2016.

Quy trình cho vay ngắn hạn tại PGD Tam Kỳ được chuẩn hóa qua 7 bước: từ lập Tờ trình đề xuất cấp tín dụng, sắp xếp lịch thẩm định, thẩm định thực tế, báo cáo kết quả thẩm định (không quá 2 ngày với khách hàng hiện hữu, 3 ngày với khách hàng mới), phê duyệt, xử lý kết quả, đến lưu trữ hồ sơ.

Đánh giá sự hài lòng của khách hàng: Tác giả thực hiện khảo sát chính thức n = 120, mô tả mẫu theo giới tính, độ tuổi, thu nhập và tình trạng hôn nhân. Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha, EFA (bao gồm kiểm định KMO và Bartlett's Test cho biến độc lập và phụ thuộc, ma trận xoay nhân tố), kiểm định tương quan và hồi quy đa biến, cùng các kiểm định Independent-sample T-test và One-way ANOVA theo biến nhân khẩu học được trình bày chi tiết.

Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay ngắn hạn đối với cá nhân SXKD tại Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Quảng Nam – PGD Tam Kỳ

Trên cơ sở kết quả phân tích định lượng từ Chương II, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những tồn tại trong từng thành phần chất lượng dịch vụ, đồng thời đưa ra kiến nghị đối với ban lãnh đạo PGD Tam Kỳ, Ngân hàng TMCP Đông Á và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính từ phân tích thực trạng:

  • Dư nợ cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD tăng liên tục qua ba năm: từ khoảng 32.635 triệu đồng (2016) lên 44.416 triệu đồng (2017, +36,1%) và 51.316 triệu đồng (2018, +15,53%), phản ánh sự mở rộng quy mô tín dụng bán lẻ của PGD.
  • Doanh số thu nợ có xu hướng tăng ổn định: tốc độ tăng doanh số thu nợ cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD đạt 18,82% năm 2017 và 14,96% năm 2018, cao hơn mức tăng tổng thu nợ PGD (11,29% năm 2017), cho thấy chất lượng thu hồi nợ phân khúc này tương đối tốt.
  • Nợ xấu gia tăng mạnh vào năm 2017 (tăng 97,87%, từ 47 lên 93 triệu đồng), sang 2018 giảm nhẹ còn 89 triệu đồng (−4,3%) nhưng chưa cải thiện rõ rệt. Tỷ trọng nợ xấu cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD trong tổng nợ xấu PGD dao động từ 26,86% (2016) đến 42,66% (2017) rồi xuống 29,87% (2018).
  • Cho vay từng lần chiếm ưu thế hơn so với cho vay theo hạn mức tín dụng trong cả ba năm.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất (Chương 3 và Phần III): Nhóm giải pháp hướng đến nâng cao từng thành phần SERVPERF – cải thiện cơ sở vật chất (Phương tiện hữu hình), tăng cường năng lực và thái độ phục vụ của nhân viên (Năng lực phục vụ, Sự cảm thông, Đáp ứng), hoàn thiện quy trình và thủ tục vay (Tin cậy), cùng kiến nghị về chính sách lãi suất và điều kiện giải ngân linh hoạt hơn cho khách hàng cá nhân SXKD tại địa bàn Tam Kỳ.

Đóng góp về phương pháp: Nghiên cứu ứng dụng thang đo SERVPERF vào bối cảnh đặc thù của dịch vụ cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD tại một phòng giao dịch ngân hàng quy mô nhỏ ở đô thị tỉnh, điều chỉnh bộ 28 biến quan sát cho phù hợp với đặc điểm thực tế của dịch vụ tín dụng bán lẻ, qua đó tạo ra công cụ đo lường có thể nhân rộng cho các nghiên cứu tương tự tại các chi nhánh/phòng giao dịch cùng quy mô.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả thừa nhận một số hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức trong quá trình thực hiện đề tài. Từ phạm vi nghiên cứu có thể nhận thấy thêm các giới hạn sau:

  • Mẫu n = 120 được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện tại một địa điểm duy nhất (PGD Tam Kỳ), khả năng tổng quát hóa cho toàn hệ thống Ngân hàng Đông Á hoặc các ngân hàng khác trên địa bàn còn hạn chế.
  • Số liệu thứ cấp chỉ bao quát giai đoạn 2016–2018; diễn biến sau năm 2018 (đặc biệt trong bối cảnh Ngân hàng Đông Á bị kiểm soát đặc biệt từ năm 2015) không được phản ánh trong phân tích.
  • Nghiên cứu chưa so sánh mức độ hài lòng với các ngân hàng cạnh tranh cùng địa bàn Tam Kỳ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mẫu, kéo dài chuỗi thời gian, bổ sung yếu tố lãi suất và rủi ro tín dụng vào mô hình đo lường sự hài lòng, hoặc so sánh đa ngân hàng trên cùng địa bàn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận phù hợp làm tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Tài chính – Ngân hàng đang chuẩn bị khóa luận tốt nghiệp về chất lượng dịch vụ ngân hàng, tín dụng bán lẻ hoặc hành vi khách hàng: có thể tham khảo cách thiết kế thang đo SERVPERF cho dịch vụ vay vốn, quy trình nghiên cứu hai giai đoạn và cách xử lý dữ liệu SPSS (Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy đa biến, T-test, ANOVA).
  • Sinh viên ngành Quản trị kinh doanh và Marketing dịch vụ quan tâm đến đo lường sự hài lòng khách hàng trong lĩnh vực tài chính: phần Chương I về lý thuyết CSI, SERVQUAL/SERVPERF và mối quan hệ chất lượng dịch vụ – sự hài lòng là nền tảng lý thuyết có giá trị tham chiếu.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về tín dụng cá nhân SXKD hoặc kinh tế địa phương khu vực miền Trung: phần phân tích thực trạng Chương II với các bảng số liệu theo doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ, nợ xấu phân tổ theo phương thức và ngành nghề là mẫu tham khảo về cách trình bày dữ liệu tín dụng thứ cấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả sử dụng mô hình đo lường nào để đánh giá sự hài lòng và vì sao không dùng SERVQUAL?

Nghiên cứu sử dụng thang đo SERVPERF của Cronin & Taylor (1992) thay vì SERVQUAL. Theo tác giả, SERVPERF đo lường chất lượng dịch vụ thuần túy bằng cảm nhận thực tế của khách hàng (Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận), khắc phục những khó khăn khi đo lường cả kỳ vọng lẫn cảm nhận như SERVQUAL. Bộ thang đo được điều chỉnh thành 28 biến quan sát thuộc 5 thành phần phù hợp với đặc thù dịch vụ cho vay ngắn hạn SXKD, đo bằng thang Likert 5 điểm.

2. Kích cỡ mẫu 120 được xác định như thế nào?

Tác giả áp dụng công thức xác định cỡ mẫu với độ tin cậy 95% (z = 1,65), sai số mẫu chấp nhận e = 8,25%, p = q = 0,5 (p.q lớn nhất = 0,25), cho kết quả n = 120. Kích cỡ này được xác nhận là hợp lệ vì vượt ngưỡng tối thiểu 4 lần số biến trong bảng hỏi (4 × 28 = 112 biến).

3. Tình hình nợ xấu cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD tại PGD Tam Kỳ giai đoạn 2016–2018 diễn biến như thế nào?

Nợ xấu cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD tăng mạnh từ 47 triệu đồng (2016) lên 93 triệu đồng (2017), tương ứng tốc độ tăng 97,87%. Năm 2018 giảm nhẹ còn 89 triệu đồng (−4,3%). Tỷ trọng nợ xấu phân khúc này trong tổng nợ xấu PGD biến động từ 26,86% (2016), tăng lên 42,66% (2017) rồi giảm xuống 29,87% (2018). Nguyên nhân giảm chậm trong năm 2018 được tác giả nhận định là do PGD tăng cho vay làm tổng dư nợ tăng nhanh hơn tốc độ thu hồi nợ xấu.

4. Doanh số cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD có tăng đều qua các năm không?

Không tăng đều. Doanh số cho vay năm 2017 tăng 17,11% so với 2016 (đạt khoảng 33.634 triệu đồng) do môi trường kinh tế thuận lợi và PGD giảm lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đến năm 2018 doanh số giảm còn 31.278 triệu đồng, giảm 2.356 triệu đồng (tương đương 7%) so với 2017. Tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn cá nhân SXKD trong tổng doanh số PGD cũng giảm từ 88,43% (2016) xuống còn 65,63% (2018).

5. Quy trình cho vay ngắn hạn tại PGD Tam Kỳ gồm những bước nào và thời gian thẩm định được quy định ra sao?

Quy trình gồm 7 bước: (1) Lập và chuyển Tờ trình đề xuất cấp tín dụng KHCN kinh doanh; (2) Sắp xếp lịch thẩm định; (3) Thẩm định thực tế khách hàng; (4) Báo cáo kết quả thẩm định; (5) Phê duyệt của cấp có thẩm quyền; (6) Xử lý kết quả phê duyệt; (7) Lưu trữ hồ sơ. Về thời gian, nhân sự thẩm định phải hoàn thành "Báo cáo thẩm định cấp tín dụng KHCN kinh doanh" trong không quá 2 ngày kể từ ngày thẩm định thực tế đối với khách hàng hiện hữu và không quá 3 ngày đối với khách hàng mới.


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Anh Tuấn (K50 Tài chính, Đại học Kinh tế Huế) nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng cá nhân về dịch vụ cho vay ngắn hạn SXKD tại Ngân hàng TMCP Đông Á – PGD Tam Kỳ, kết hợp phân tích thực trạng tín dụng thứ cấp giai đoạn 2016–2018 với khảo sát định lượng n = 120 theo mô hình SERVPERF. Kết quả cho thấy dư nợ phân khúc này tăng trưởng liên tục song nợ xấu cũng có chiều hướng gia tăng, đòi hỏi ngân hàng cân bằng giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro. Nghiên cứu đóng góp một bộ thang đo SERVPERF được điều chỉnh cho phù hợp với dịch vụ tín dụng bán lẻ tại đơn vị quy mô nhỏ và cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa các thành phần chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng trong bối cảnh địa phương tại Tam Kỳ, Quảng Nam.