chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ). - Thông tư 10/2020TT-BNNPTNT của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT về việc ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và cấm sử dụng tại Việt Nam. - Thông tư liên tịch 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng. - Quyết định số 97/2008/QĐ-BNN ngày 6/10/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất, gia công, gia chai, đóng gói, buôn bán thuốc BVTV.
Vai trò và phân loại thuốc BVTV với cây trồng 1. Vai trò thuốc BVTV Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp thì việc thâm canh tăng sản lượng lương thực là con đường tất yếu. Khi thâm canh cây trồng, một hậu quả tất yếu xảy ra là sẽ làm mất cân bằng sinh thái, kéo theo sự phát sinh các loài dịch hại và sự phá hại của chúng ngày càng tăng. Để làm giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người phải tiến hành các biện pháp để phòng trừ, trong đó biện pháp sử dụng thuốc BVTV được xem là quan trọng, tối ưu với người nông dân.
Tác hại của sâu bênh, nấm, vi khuẩn. rất lớn không thể lường trước được. Người ta dự tính tác hại của bệnh, cỏ dại, vi khuẩn lên đến 46% tiềm năng năng xuất lúa thế giới. Riêng Châu Á thiệt hại đến 51,6% và riêng ở Mỹ hàng năm thiệt hại khoảng 80 tỷ đôla.
Thuốc BVTV đã thực sự được đánh giá cao, được ghi nhận vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp. 5 Từ xưa đến nay trong sản xuất nông nghiệp, thuốc BVTV là một vật tư kỹ thuật cần thiết để góp phần ngăn chặn dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản. Hiện nay, sử dụng thuốc BVTV cũng là một biện pháp quan trọng trong hệ thống các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) (Nguyễn Trần Oánh & cs, 2007). Phân loại thuốc BVTV Thuốc BVTV có rất nhiều loại khác nhau (khoảng trên 10.000 hợp chất độc) và có nhiều cách phân loại khác nhau.
Tại Việt Nam, để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, hàng năm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng. Theo “Thông tư 10/2020TT-BNNPTNT của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT về việc ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và cấm sử dụng tại Việt Nam” có 850 hoạt chất thuốc trừ sâu với 1757 tên thương phẩm, 563 hoạt chất thuốc trừ bệnh với 1191 tên thương phẩm được sử dụng. Phân loại theo tính độc - Chất độc: là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết. - Tính độc: là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó.1 Phân chia độ độc thuốc (Độc tính LD50 mg/kg chuột nhà) LD50 (mg/kg) Hệ số da Mức độc ( Độc tính) < 300 1-2 Độc tính mạnh 300< LD50 <1000 3 Độc tính trung bình <1000 >3 Độc tính yếu Nguồn: Trần Văn Hai, 2009 6 Theo độ độc cấp tính qua miệng hay đường ruột (biểu thị bằng LD50, thử nghiệm trên chuột), các loại thuốc trừ dịch hại được chia thành các nhóm như sau: Bảng 1.2 Bảng phân chia nhóm độc qua miệng theo độ độc Độ độc cấp tính LD50 (mg/kg) qua Phân nhóm và kí Biểu tượng nhóm miệng hiệu nhóm độc độc Thể rắn Thể lỏng I “Rất độc” Đầu nâu xương <50 <200 chử đen trên băng chéo màu đỏ II “Độc cao” Chử thập đen 50-500 200-2000 chử đen trên băng màu vàng III “Nguy hiểm” Vạch đen không chử đen trên băng >500 >2000 liên tục màu xanh nước biển Nguồn: WHO, 2015 - Trong thực tế người ta thường đề cập đến liều lượng gây chết 50% sinh vật thí nghiệm, ký hiệu LD50 (lethal dose) là liều lượng của thuốc gây chết cho 50% số cá thể sinh vật thí nghiệm (thường là chuột) trong điều kiện môi trường đồng nhất.
Đơn vị của LD50 là mg/kg (mg chất độc hoạt động (active ingredient) trên mỗi kg thể trọng của sinh vật thí nghiệm). Một loại thuốc có LD50 càng thấp thì càng độc. Phân loại theo công dụng - Thuốc trừ sâu: gồm các chất hay hổn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường. Chúng được dùng để ngăn ngừa hay diệt trừ các tác hại của côn trùng đến cây trồng, nông lâm sản, gia súc và con người.
Trong thuốc trừ sâu dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng người ta còn chia ra: thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non (Nguyễn Trần Oánh & cs, 2007). - Thuốc trừ bệnh: bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học vô cơ, hữu cơ, sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loại vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun thuốc lên bể mặt cây, xử lý giống và đất. Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loại vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị bệnh do yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất úng, hạn). Thuốc trừ bệnh còn bao gồm cả thuốc trừ nấm và trừ vi khuẩn, thường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm, còn thuốc trừ nấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn.
Nhiều khi nấm bao gồm cả thuốc trừ vi khuẩn (Nguyễn Trần Oánh & cs, 2007). - Thuốc trừ cỏ: bao gồm các chất được dùng để trừ các loại thực vật cản trở sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, các loại thực vật mọc hoang dại trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt. và gồm cả các thuốc trừ rong rêu trên đồng ruộng, kênh mương. Đây là nhóm dễ gây hại cho cây trồng nhất.
Do vậy, khi dùng các thuốc thuộc nhóm này cần đặc biệt thận trọng (Nguyễn Trần Oánh & cs, 2007). - Thuốc diệt chuột: là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau được dùng để diệt chuột gây hại trên đồng ruộng, trong nhà, kho tàng và các loại gặm 8 nhấm. Chúng có tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi (ở nơi kín đáo) (Nguyễn Trần Oánh & cs, 2007). - Thuốc trừ nhện: những chất được dùng chủ yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ.
Hầu hết thuốc trừ nhện thông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc. Đại đa số thuốc trong nhóm là những thuốc đặc hiệu có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch. - Thuốc trừ tuyến trùng: các chất xông hơi và nội hấp được dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây (Nguyễn Trần Oánh & cs, 2007). Phân loại dựa vào con đường xâm nhập đến dịch hại Thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể dịch hại qua các con đường như: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thấm sâu và nội hấp.
Phân loại dựa vào nguồn gốc hóa học - Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại. - Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh.) có khả năng tiêu diệt dịch hại. - Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi.) có khả năng tiêu diệt dịch hại. - Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat.
Tác động của thuốc BVTV Hệ sinh thái là một phức hệ bao gồm các yếu tố như đất đai, khí hậu, thủy văn, động vật, thực vật, vi sinh vật. Hệ sinh thái tự nhiên rẩt đa dạng, phức tạp và có tính cân bằng động nên khá ổn định. Sự khai khẩn, trồng trọt của con 9 người đã biến hệ sinh thái tự nhiên này thành hệ sinh thái nông nghiệp đơn giản, dễ biến động. Các biện pháp thâm canh, canh tác đặc biệt là việc dùng các hóa chất độc để phòng trừ dịch hại càng phát triển thì sự mất cân bằng của hệ sinh thái càng trở nên nghiêm trọng.
Đa số để dễ dàng hơn trong việc trồng trọt canh tác, người dân đều tìm đến thuốc BVTV. Với việu sử dụng thuốc BVTV như hiện nay nó cũng đem lại nhiều điểm tích cực. Các thuốc bảo vệ thực vật tiêu diệt các loài ký sinh hoặc cạnh tranh điều kiện sống với cây trồng (như sâu, nấm bệnh, cỏ dại), giúp cho cây trồng phát triển tốt, cho năng suất cao. Nếu không trừ cỏ thì cây lúa chỉ hấp thu một lượng N bằng 52-70% so với trừ cỏ, do đó năng suất có thể bị giảm 18-43% (Arai Masao A.
Một số thuốc bảo vệ thực vật còn có khả năng kích thích quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng: Nâng cao tỷ lệ giống nảy mầm, cải thiện sự phát triển của bộ rễ, tăng chiều cao cây, số hạt trên bông, trọng lượng hạt, tỷ lệ hạt chắc, hoặc làm cho cây trồng vững vàng, cứng cáp hơn. Tuy nhiên trái với nhiều điểm lợi đem lại thì tác hại của thuốc BVTV cũng là mối lo lớn đối với toàn thể nhân loại (Trần Văn Hai, 2009). Ảnh hưởng thuốc BVTV với sức khỏe con người Sức khỏe con người là vô cùng quý giá. Nhưng hiện nay những ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người cũng là một vấn đề cấp bách.
Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng và môi trường hằng năm có trên 5000 trường hợp nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật phải cấp cứu tại bệnh viện và có trên 300 trường hợp tử vong.