chương 1, điều 3, mục 16 định nghĩa “Thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc”. Như vậy thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay sản phẩm nông dược là những chế phẩm có nguồn gốc hoá chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; các chế phẩm điều hoà sinh trưởng thực vật, chất làm rụng hay khô lá; các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt (Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật nước CHXHCNVN và điều lệ Quản lý thuốc BVTV). Dựa vào đối tượng phòng chống, thuốc BVTV gồm các loại sau: trừ sâu, trừ bệnh, trừ chuột, trừ nhện, trừ tuyến trùng và trừ cỏ.
Ngay từ khi mới ra đời thuốc BVTV đã được đánh giá cao và được coi là một trong những thành tựu lớn của khoa học kỹ thuật. Đến nay, thuốc BVTV đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của nền nông nghiệp hiện đại. Mặc dù ngày nay khoa học đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt như sinh thái học dịch hại, miễn dịch thực vật… nhiều biện pháp phòng trừ sinh vật gây hại được áp dụng có hiệu quả như lai tạo các giống chống chịu sâu bệnh, tạo giống sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy, biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, quản lý sinh vật gây hại tổng hợp … nhưng thuốc bảo vệ thực vật vẫn có vai trò to lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nông nghiệp. Đặc biệt, đối với người nông dân, sử dụng thuốc BVTV được coi là phương pháp đơn giản và được áp dụng thường xuyên.
3 Thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trong sản xuất nông, lâm nghiệp nhằm mục đích phòng trừ, ngăn ngừa và tiêu diệt các sinh vật gây hại cho cây trồng, cho nông lâm sản hoặc để điều hòa, kích thích sinh trưởng cho cây trồng từ đồng ruộng cho tới kho bảo quản.2 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật Hiện nay, thuốc BVTV rất phong phú và đa dạng về mọi mặt, mỗi một loại lại xử lý một vấn đề riêng của cây trồng. Bà con có thể dễ dàng tìm mua chúng ngay tại cửa hàng gần nhà, chỉ cần đọc tên loại sâu bệnh là có ngay loại thuốc phù hợp. Có nhiều cách phân loại thuốc bảo vệ thực vật cụ thể như sau: 1.1 Theo nguồn gốc và cấu trúc hóa học Thuốc BVTV được sản xuất chủ yếu có 2 nguồn gốc chính đó là hóa học tổng hợp hoặc có nguồn gốc sinh học: Thuốc BVTV được tổng hợp hóa học: Là những sản phẩm có thành phần hoạt chất được tổng hợp từ các chất hóa học vô cơ hoặc hữu cơ và hầu hết là chất độc. Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học: Là các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, là chế phẩm sinh học có nguồn gốc là thảo dược hay các chủng vi sinh được nuôi cấy trong các môi trường dinh dưỡng khác nhau.
Các sản phẩm này có tính độc thấp hơn so với thuốc hóa học. Những sản phẩm có nguồn gốc sinh học vốn dĩ đã là những phương pháp được sử dụng trong lối canh tác của người xưa, sau này phát triển thành hóa học. Nhưng khi con người dần ý thức được hậu quả của các chất hóa học gây ra, thì các sản phẩm có nguồn gốc sinh học mới đưa vào tái sử dụng.2 Theo đối tượng phòng trừ Dựa vào sinh vật gây hại khác nhau mà phân thành các loại: Thuốc trừ cỏ Thuốc trừ sâu Thuốc trừ nhện Thuốc trừ bệnh Thuốc trừ ốc Thuốc trừ chuột 1.3 Theo dạng thuốc Dựa vào trạng thái của thuốc thì gồm: Dạng dung dịch, dạng sữa, dạng bột thấm nước, dạng bột, dạng hạt, dạng bột tan trong nước, dạng dung dịch huyền phù, thuốc phun lượng cực nhỏ.4 Theo tác dụng của thuốc Thuốc có tác dụng thông qua tiếp xúc Thuốc có tác dụng vị độc Thuốc có tác dụng nội hấp Thuốc có tác dụng xông hơi 1.5 Theo cách xâm nhập và nhóm độc Đối với động vật thì thuốc bảo vệ thực vật đều là những loại chất độc. Xét trên cách thức xâm nhập thì gồm 3 loại: Thuốc vị độc (gây độc qua đường tiêu hóa), thuốc xông hơi (gây ngộ độc qua đường hô hấp), thuốc tiếp xúc (gây độc qua da, qua vỏ bọc của cơ thể).
Độ độc là liều lượng nhất định của chất độc cần có để gây được một tác động nào đó trên cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập vào cơ thể sinh vật. Tính độc của thuốc là nhắc tới khả năng gây độc của một lượng thuốc nhất định khi tác động vào cơ thể, phân thành: Độc cấp tính: Mức độ độc này có thể gây ra buồn nôn, chóng mặt, toát mồ hôi, … ngay khi tiếp xúc với cơ thể hay bị nhiễm phải một lượng nào đó. 5 Độc mãn tính: Loại độc này ngấm dần vào cơ thể, thường thì chưa có biểu hiện ngay, lượng độc sẽ tích lũy thêm sau mỗi lần tiếp xúc và phá hủy dần cơ thể, khi tích tụ nhiều sẽ bộc phát và biểu hiện ra ngoài. Rất độc: Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thuốc bảo vệ thực vật được phân thành 5 nhóm độc dựa theo chỉ số LD50 (mg/kg), là liều lượng chất độc gây chết cho 50% số cá thể đem thí nghiệm.
Giá trị LD50 ( qua miệng và qua da động vật thí nghiệm) được dùng để so sánh độ độc của các chất độc với nhau. Giá trị LD50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc đó càng mạnh. Giá trị LD50 thay đổi theo loài động vật thí nghiệm và điều kiện thí nghiệm. 1 Phân loại độ độc của thuốc BVTV theo WHO Qua đường miệng Qua tiếp xúc da Phân nhóm độc Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng Độc rất nhẹ >2000 >3000 Độc nhẹ 500 - 2000 2000 - 3000 >1000 >4000 Độc trung bình 50 - 500 200 - 2000 100 - 1000 400 - 4000 Độc 5 - 50 20 - 200 10 - 1000 40 – 400 Độc mạnh 5 20 10 40 Những con số trong bảng bên trên là thể hiện liều lượng gây chết trung bình được tính bằng đơn vị miligam (mg) hoạt chất, với liều lượng đó có thể gây chết 50% số động vật được thí nghiệm (tính bằng kg), khi tổng lượng thể trọng của số động vật trên bị cho uống thuốc hoặc phết vào da.
Con số càng nhỏ thì chứng tỏ chất đó càng độc (FAO 2019). Trên bao bì thuốc BVTV đều có dấu hiệu màu để quy định mức độ nguy hiểm của sản phẩm: Vạch màu xanh lá cây: Độc rất nhẹ Vạch màu xanh dương: Độc nhẹ Vạch màu vàng: Độc trung bình Vạch màu đỏ: Độc và độc mạnh 6 Với những sản phẩm có tính độc rất mạnh có đính kèm ký hiệu đầu lâu gạch chéo để cảnh báo nguy hiểm cho người sử dụng, loại này có thể gây chết người.3 Vai trò của thuốc bảo vệ thực vật - Thuốc có thể diệt được dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện tích rộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn mà biện pháp khác không thể thực hiện. - Đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệ năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời giảm được diện tích canh tác. - Tăng sản lượng lương thực do mùa màng được bảo vệ chống lại việc gây bệnh, lấn chiếm của cỏ dại, sự làm rụng lá vì côn trùng và kí sinh của giun - Ngăn cản sự hư hỏng của nông sản, dự trữ lương thực.
- Tiết kiệm được nhiều tiền cho cuộc sống con người bởi sự ngăn ngừa bệnh tật.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 1.1 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở thế giới Trên thế giới, thuốc BVTV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm. Theo tính toán của các chuyên gia, trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20, thuốc BVTV góp phần bảo vệ và tăng năng suất khoảng 20 - 30% đối với các loại cây trồng chủ yếu như lương thực, rau, hoa quả. Theo Gifap (2013) giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới năm 1992 là 22,4 tỷ USD, năm 2000 là 29,2 tỷ USD và năm 2010 khoảng 30 tỷ USD, trong 10 năm gần đây ở 6 nước châu Á trồng lúa, nông dân sử dụng thuốc BVTV tăng 200 - 300% mà năng suất không tăng. Những năm gần đây theo ý kiến và nghiên cứu của nhiều tổ chức khoa học, chuyên gia về nông nghiệp, bảo vệ thực vật, sinh thái quá trình sử dụng thuốc BVTV ở thế giới trải qua 3 giai đoạn là: 1 - Cân bằng sử dụng: yêu cầu cao, sử dụng có hiệu quả.
2 - Dư thừa sử dụng: bắt đầu sử dụng quá mức, lạm dụng thuốc BVTV, ảnh hưởng đến môi trường, giảm hiệu quả. 3 - Khủng hoảng sử dụng: quá 7 lạm dụng thuốc BVTV, tạo nguy cơ tác hại đến cây trồng, môi trường, sức khỏe cộng đồng, giảm hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn dư thừa sử dụng từ những năm 80 - 90 và giai đoạn khủng hoảng từ những năm đầu thế kỷ 21. Với những nước đang phát triển, sử dụng thuốc BVTV chậm hơn (trong đó có Việt Nam) thì các giai đoạn trên lùi lại khoảng 10 - 15 năm (Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam 2013).
Theo Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam (2013) hiện danh mục các thuốc BVTV trên thế giới đã là hàng ngàn loại, ở các nước thường từ 400 - 700 loại (Trung Quốc 630 loại, Thái Lan 600 loại). Tăng trưởng thuốc BVTV những năm gần đây từ 2 - 3%. Trung Quốc tiêu thụ hằng năm 1,5 - 1,7 triệu tấn thuốc BVTV (2010). Sự đóng góp của thuốc BVTV vào quá trình tăng năng suất ngày càng giảm.
Theo Sarazy and Kenmor (2008-2011) ở các nước châu Á trồng nhiều lúa, 10 năm qua (2000 - 2010) sử dụng phân bón tăng 100%, sử dụng thuốc BVTV tăng 200 - 300% nhưng năng suất hầu như không tăng, số lần phun thuốc trừ sâu không tương quan hoặc thậm chí tương quan nghịch với năng suất.