chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc, …). Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt. Ở nhiều nước trên thế giới thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại. Sở dĩ gọi là thuốc trừ dịch hại là vì những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, nấm, vi khuẩn, cỏ dại…) có một tên chung là những dịch hại, do vậy những chất dùng để diệt trừ chúng được gọi là thuốc trừ dịch hại (Nguyễn Trần Oánh, 2007).
Phân loại thuốc bảo vệ thực vật Có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV như phân loại theo công dụng hoặc theo gốc hóa học (nhóm Clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ…), theo thời gian phân hủy. Các thuốc BVTV có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác nhau.1: Phân loại thuốc bảo vệ thực vật STT Công dụng Thành phần chính - Hợp chất hữu cơ Clo (Hydrocloruacacbon); - Hợp chất hữu cơ Phospho (Este axit phosphoric); - Muối Carbamic; 1 Thuốc trừ sâu bệnh - Pyrethroids tự nhiên và nhân tạo; - Dinitro phenol; - Thuốc có nguồn gốc từ thực vật. - Nitro anilin; - Muối carbamic và Thiocarbamic; 2 Thuốc diệt cỏ - Hợp chất nitơ dị vòng (Triazine); - Dinitrophenol và dẫn xuất phenol. - Thuốc diệt nấm vô cơ (trên căn bản sulfur đồng và thủy ngân); 3 Thuốc diệt nấm - Thuốc diệt nấm hữu cơ (Dithiocarbamat); - Thuốc diệt nấm qua rễ (Benzimidazoles); - Kháng sinh (sản phẩm từ vi sinh vật).
- Chất chống đông máu (Hydroxy coumarins); 4 Thuốc diệt chuột - Các loại khác (Arsennicals, thioureas). - Ức chế sinh trưởng (hợp chất Quatermary); 5 Thuốc kích thích - Kích thích đâm chồi (Carbamates); - Kích thích rụng quả (Cyclohexmide). (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2000) + Theo Bộ NN-PTNT tổng cộng có 439 hoạt chất và hàng nghìn tên gọi khác nhau tuy nhiên ta có thể phân thành 5 loại chính như Bảng 1. + Theo nghiên cứu cho thấy 30% dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn tại trong đất, nước trong khoảng thời gian 50 năm (Nguyễn Kim Vân, 2008).2: Phân loại thuốc BVTV theo thời gian phân hủy Thời gian phân STT Phân nhóm Một số loại điển hình hủy Các hợp chất hữu cơ chứa Nhóm hầu như không 1 Không phân hủy kim loại: Hg, Asen… Loại phân hủy này đã bị cấm sử dụng 4 Nhóm khó phân hủy DDT, 666 (HCH), đã bị cấm 2 2-5 năm hay POP sử dụng Nhóm phân hủy trung Thuốc loại hợp chất hữu cơ 3 1-18 tháng bình có chứa clo (2,4-D) Hợp chất Photpho hữu cơ, 4 Nhóm dễ phân hủy 1-12 tuần Cacbonat.2 cho thấy các loại hóa chất BVTV rất khó để phân hủy trong tự nhiên, chỉ có các hợp chất Photpho hữu cơ và cacbonat là dễ phân hủy.
Thuốc BVTV có rất nhiều chủng loại và dạng khác nhau, mỗi dạng lại có những chất khác nhau cấu thành và ở các thể khác nhau. Dưới đây là bảng 1.3 về các dạng thuốc BVTV. 3: Tổng hợp các dạng thuốc vảo vệ thực vật Dạng Chữ viết Một số loại điển hình Ghi chú thuốc tắt Tilt 250 ND, Thuốc ở thể lỏng, Nhũ dầu ND, EC Basudin 40 EC, trong suốt. DC-Trons Plus 98.8 EC Dễ bắt lửa cháy nổ Bonanza 100 DD, Hòa tan đều trong DD, SL, L, Dung dịch Baythroid 5 SL, nước, không chứa AS Glyphadex 360 AS chất hóa sữa BTN, Viappla 10 BTN, Dạng bột mịn, phân Bột hòa BHN, WP, Vialphos 80 BHN, tán trong nước thành nước DF, WDG, Copper-zinc 85 WP, dung dịch huyền phù SP Padan 95 SP Appencarb super 50 FL, Lắc đều trước khi sử Huyền phù HP, FL, SC Carban 50 SC dụng Basudin 10 H, Hạt H, G, GR Chủ yếu rải vào đất Regent 0.3 G Orthene 97 Pellet, Chủ yếu rải vào đất, Viên P Deadline 4% Pellet làm bả mồi.
5 Dạng bột mịn, không Thuốc BR, D Karphos 2 D tan trong nước, rắc phun bột trực tiếp (Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết, 2000) Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hóa học Nhóm thuốc thảo mộc: Thuốc BVTV sinh học tạo bởi quá trình tách chiết thực vật có hiệu lực khá cao và phong phú như Nicotin trong cây thuốc lá, Limonene từ vỏ cam quýt. độ độc cấp tính cao nhưng mau phân hủy trong môi trường, ít độc với con người và động vật máu nóng, được khuyến khích sử dụng trong nông nghiệp sạch. Nhóm Clo hữu cơ: DDT, BHC, Edosunfan. độ độc thuốc đối với động vật máu nóng đều từ trung bình đến cao, ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, cấu tạo hóa học bền nên tích lũy lâu dài trong môi trường và cơ thể sinh vật (thời gian phân hủy 95% DDT trong tự nhiên là 10 năm, BHC là 6 năm, Dieldrin 8 năm).
Mặc dù giá thành rẻ, hiệu lực cao, thời gian hiệu lực dài, tuy nhiên nhóm hoạt chất Clo hữu cơ không có đặc tính chọn lọc, gây hại cho các loài thiên địch, sinh vật có ích cũng như con người. Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58, Malathion, Paration. độ độc cấp tính của các loại thuốc thuộc nhóm này tương đối cao, phổ rộng diệt được nhiều loại sâu bệnh, tác dụng nhanh, ít tan trong nước nhưng dễ tan trong dung môi hữu cơ nên tích lũy lâu dài trong các mô của cơ thể sinh vật. Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 1.
Trên thế giới Trên thế giới thuốc bảo vệ thực vật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong ngành kinh tế nông nghiệp. Thuốc có vai trò lớn trong việc phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm. Trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20, thuốc BVTV góp phần bảo vệ và tăng năng suất khoảng 20 - 30% đối với các loại cây trồng chủ yếu như lương thực, rau, hoa quả. 6 Những năm gần đây theo ý kiến và nghiên cứu của nhiều tổ chức khoa học và các chuyên gia về nông nghiệp, bảo vệ thực vật, sinh thái quá trình sử dụng thuốc BVTV ở thế giới trải qua 3 giai đoạn là: 1 - sử dụng cân bằng (Balance use): yêu cầu cao, sử dụng có hiệu quả.
2 - sử dụng dư thừa (Excessise use): bắt đầu sử dụng quá mức, lạm dụng thuốc BVTV, ảnh hưởng đến môi trường, giảm hiệu quả. 3 - Khủng hoảng sử dụng (Pesticide Crisis): quá lạm dụng thuốc BVTV, tạo nguy cơ tác hại đến cây trồng, môi trường, sức khỏe cộng đồng, giảm hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn dư thừa sử dụng từ những năm 80 - 90 và giai đoạn khủng hoảng từ những năm đầu thế kỷ 21. Với những nước đang phát triển, sử dụng thuốc BVTV chậm hơn (trong đó có Việt Nam) thì các giai đoạn trên lùi lại khoảng 10 - 15 năm.
Trên thế giới các ngành sản xuất nông nghiệp cũng là nguồn tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật lớn hơn so với các ngành như lâm nghiệp và cây công nghiệp. Hiện danh mục các hoạt chất BVTV trên thế giới đã là hàng ngàn loại, ở các nước thường từ 400 - 700 loại (Trung Quốc 630, Thái Lan 600 loại). Tăng trưởng thuốc BVTV những năm gần đây từ 2 - 3%. Trung Quốc tiêu thụ hằng năm 1,5 - 1,7 triệu tấn thuốc BVTV (Liên hiệp hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam – VUSTA, 2015) 1.
Tại Việt Nam “Không nên lạm dụng thuốc diệt cỏ, thuốc bảo vệ thực vật” - khuyến cáo này liên tục được đưa ra. Thế nhưng, đây vẫn là thực tế hết sức nổi cộm trong nông nghiệp Việt Nam. Một thống kê đáng cảnh báo đã được công bố đó là Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát. Trung bình 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi từ 500 - 700 triệu USD để nhập thuốc bảo vệ thực vật.
Trong số này, 48% là thuốc diệt cỏ, tương đương 19.000 tấn, còn lại là thuốc trừ sâu, trừ bệnh, khoảng trên 16. Khối lượng chất thuốc bảo vệ thực vật trên 1 ha cây trồng mỗi năm ở Việt Nam lên đến 2 kg, trong khi một số nước khác trong khu vực chỉ từ 0,2 - 1 kg/ha. Tình trạng lạm dụng thuốc diệt cỏ, thuốc bảo vệ thực vật đã kéo theo hàng loạt hệ 7 lụy đối với sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng và đe dọa đến nền nông nghiệp bền vững. Phần lớn các loại hóa chất BVTV được sử dụng ở nước ta hiện nay có nguồn gốc từ nhập khẩu.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014 về thực trạng và giải pháp quản lý thuốc BVTV nhập lậu cho thấy hàng năm Việt Nam nhập khẩu từ 70.000 tấn thuốc BVTV, trong đó thuốc trừ sâu chiếm 20,4%, thuốc trừ bệnh chiếm 23,2%, thuốc trừ cỏ chiếm 44,4%, các loại thuốc BVTV khác như thuốc xông hơi, khử trùng, bảo quản lâm sản, điều hòa sinh trưởng cây trồng chiếm 12% (Cục Bảo vệ thực vật, 2015). Hiện nay những ngành sử dụng nhiều hóa chất thuốc bảo vệ thực vật như: Nông nghiệp, Lâm nghiệp và cây Công nghiệp. Trong đó cây trồng nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo năng suất cây trồng còn cây lâm nghiệp và cây Công nghiệp hầu như lượng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là rất ít. Số lần phun thuốc bảo vệ thực vật cho chè ở Thái Nguyên từ 6,2 đến 29,7 lần/ năm, cho lúa ở đồng bằng sông Hồng từ 1 - 5 lần/ vụ, ở đồng bằng sông Cửu Long từ 2 - 6 lần/ vụ, trên 6 lần có 35,6% hộ.
Số lần phun cho rau từ 7 - 10 lần/ vụ ở đồng bằng sông Hồng, ở Thành phố Hồ Chí Minh 10 - 30 lần (Phạm Văn Lầm, 2000). Một kết quả điều tra năm 2010 (Bùi Phương Loan, 2010) ở vùng rau đồng bằng sông Hồng cho thấy số lần phun thuốc bảo vệ thực vật từ 26 - 32 lần (11,1 - 25,6 kg/ha) trong 1 năm. Số lần phun như trên là quá nhiều, có thể giảm 45 - 50% (Ngô Tiến Dũng và Nguyễn Huân, 2010) Những khu vực như: Yên Bái, Bắc Giang, Thái Nguyên, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng bằng sông Cửu Long đã có những khuyến cáo hoặc có ảnh hưởng, hệ luỵ đến sức khoẻ, môi trường do ảnh hưởng của thuốc BVTV.