Đặt vấn đề Đất đai là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và tất cả các sinh vật khác trên trái đất, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của con người, không có đất đai con người không thể tồn tại được. Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Đặc biệt trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu, không gì có thể thay thế được. Kinh tế - xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối quan hệ con người và đất đai ngày càng trở nên căng thẳng.
Những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng đất cùng với sự tác động của thiên nhiên đã và đang làm hủy hoại môi trường đất, một số công năng của đất đai bị suy yếu đi. Vấn đề tổ chức quản lý và sử dụng đất đai đúng pháp luật, có hiệu quả cao và bền vững càng trở nên quan trọng, bức xúc và mang tính toàn cầu, là vấn đề cấp thiết đang được đặt ra cho các cấp, các ngành và các đối tượng sử dụng đất. Ở Việt Nam, đất đai chưa được coi như là một hàng hóa cho đến khi Luật Đất đai 1993 ra đời và có hiệu lực, nhà nước ta đã cụ thể hóa giá trị đất đai và coi đất đai như là một hàng hóa đặc biệt. Hiện nay nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng do đó đất đai ngày càng trở nên khan hiếm.
Xuất phát từ thực tế trên và từ những quy định của nhà nước mà đất đai ngày nay được sử dụng một cách hiệu quả, người sử dụng đất đã biết cách đầu tư, cải tạo. Xã hội ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng nhiều, từ đó đất đai trở nên khan hiếm, đặc biệt là đất ở đô thị, khu dân cư nông thôn và đất sản xuất nông nghiệp. Hiện trạng sử dụng đất phản ánh sự tác động của con người lên tài nguyên đất đai, là kết quả của quá trình chọn lọc và sử dụng lâu đời của con người. Vì vậy đánh giá tình hình sử dụng đất là một trong các hoạt động nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Hiện nay, đất đai đặc biệt là đất nông nghiệp rất hạn chế về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó là chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai thác đất hoang là rất hạn chế. Do việc đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất nông n 5 nghiệp đề ra phương hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng và cần thiết.
Tuy Lộc là một xã nằm ở phía Tây Nam của Thành phố Yên Bái, là địa bàn có diện tích đất nông nghiệp khá lớn, địa hình tương đối phức tạp gây khó khăn cho công tác quản lý của các ban ngành. Dân số chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp. Đất đai màu mỡ nhưng chưa sử dụng hợp lý, chưa có biện pháp cải tạo nên hiệu quả sử dụng đất còn thấp. Việc đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã là một công tác thực sự cần thiết, nhằm xác định tình hình sử dụng đất nông nghiệp của địa phương, góp phần xây dựng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xuất phát từ tình hình thực tế trong công tác sử dụng đất, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: Th.S Hà Anh Tuấn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp tại xã Tuy Lộc, Thành phố Yên Bái, Tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2013”. Mục đích nghiên cứu. Đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Tuy Lộc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Chuyên đề chỉ tiến hành đánh giá mang tính định lượng hiệu quả về mặt kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và chỉ dừng lại ở mức định tính.
Yêu cầu của đề tài - Thu thập số liệu chính xác về các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp. - Đưa ra phương hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả. Ý nghĩa của đề tài - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và trang bị những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. - Trên cơ sở đánh giá hiện trạng công tác sử dụng đất nông nghiệp từ đó đưa ra phương hướng sử dụng đất đạt hiệu quả. n 6 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp 2.
Khái niệm, chức năng và quá trình hình thành đất 2. Khái niệm về đất Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ nhưỡng, là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển.
Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản. Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đôkutraiep coi: “Đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian. Đất xem như một thể sống nó luôn vận động và phát triển”[8].Mac: “ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” [10]. Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được [10].
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người [10]. Chức năng của đất đai Khái niệm về đất đai gắn liền với nhận thức của con người về thế giới tự nhiên và sự nhận thức này không ngừng thay đổi theo thời gian. Hiện nay, con n 7 người đã thừa nhận đất đai đối với loài người có rất nhiều chức năng, trong đó có những chức năng cơ bản sau: - Chức năng sản xuất: là cơ sở cho nhiều hệ thống phục vụ cuộc sống của con người, qua quá trình sản xuất, đất đai cung cấp lương thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con người sử dụng trực tiếp hay gián tiếp thông qua chăn nuôi và trồng trọt. - Chức năng môi trường sống: đất đai là cơ sở của mọi hình thái sinh vật sống trên lục địa thông qua việc cung cấp các môi trường sống cho sinh vật và gen di truyền để bảo tồn nòi giống cho động vật, thực vật và các cơ thể sống cả trên và dưới mặt đất.
- Chức năng cân bằng sinh thái: đất đai và việc sử dụng nó là nguồn và là tấm thảm xanh đã hình thành một thể cân bằng năng lượng trái đất thông qua việc phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lượng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển của địa cầu. - Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước: đất đai là kho tàng lưu trữ nước mặt và nước ngầm vô tận, có tác động mạnh đến chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và có vai trò điều tiết nước rất to lớn. - Chức năng dự trữ: đất đai là kho tài nguyên khoáng sản cung cấp cho mọi nhu cầu sử dụng của con người. - Chức năng không gian sự sống: đất đai có chức năng tiếp thu, gạn lọc, là môi trường đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại.
- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử: đất đai là trung gian để bảo vệ các chứng tích lịch sử, văn hóa của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu, thời tiết và cả quá tŕnh sử dụng đất trong quá khứ. - Chức năng vật mang sự sống: đất đai cung cấp không gian cho sự chuyển vận của con người, cho đầu tư sản xuất và cho sự dịch chuyển của động vật.giữa các vùng khác nhau của hệ sinh thái tự nhiên. - Chức năng phân dị lãnh thổ: sự thích hợp của đất đai về các chức năng chủ yếu nói trên thể hiện rất khác biệt ở các vùng lãnh thổ của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn trái đất nói chung. Mỗi phần lãnh thổ mang những đặc tính tự nhiên, kinh tế, xã hội rất đặc thù [12].
Đất đai có nhiều chức năng và công dụng, tuy nhiên không phải tất cả đều bộc lộ ngay tại một thời điểm.