ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi lợn đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cung cấp thực phẩm cho con người và phát triển kinh tế Việt Nam. Theo số liệu thống kê so với cùng kỳ năm 2021, tại thời điểm tháng 6/2022, tổng đàn lợn ước tính tăng 3,8%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng khoảng 2,12 triệu tấn (tăng 5,7%); Chăn nuôi lợn đã cung cấp 4,17 triệu tấn thịt hơi (chiếm khoảng trên 60% tổng sản lượng thịt hơi các loại) cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Để chăn nuôi lợn tiếp tục phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hiện nay nước ta đã có định hướng và đặt mục tiêu phát triển đến 2030 là phát triển chăn nuôi lợn với các giống cao sản theo hướng trang trại công nghiệp, kết hợp với việc bảo tồn và phát triển các giống bản địa (Cục Chăn nuôi, 2022). Việc thâm canh và sử dụng các giống cao sản nhập nội và tạo con lai từ đàn lợn ngoại đã và đang đóng góp quan trọng trong việc cải thiện năng suất.
Các giống lợn ngoại cao sản đã được các cơ sở giống nhập về làm nguyên liệu tạo đàn ông bà, bố mẹ và sản xuất lợn thương phẩm 2 giống, 3 giống, 4 giống theo yêu cầu và thị hiếu của thị trường. Lợn được nuôi tại trại GreenFarm Hưng Yên là lợn thương phẩm của 2 tổ hợp lai (♂399 x ♀GF24) và (♂337 x ♀GF24) trại đang sử dụng giống PIC của Mỹ. Đến thời điểm hiện tại thì chỉ có tại công ty GREENFEED sử dụng độc quyền con giống này ở Việt Nam. Giống GF24 có nhiều đặc điểm ưu việt như khả năng thích nghi cao với mọi điều kiện chăn nuôi ngay từ giai đoạn đầu nhập trại, cơ thể mang gen kháng E.coli chủng F18, năng suất ổn định ngay từ lứa đẻ đầu tiên, tỉ lệ chọn nuôi trung bình là 13 con /lứa/ nái.
Thời gian lên giống nhanh từ 3-5 ngày. Với lợn đực giống ♂399 và ♂337 có đặc điểm sinh sản nổi bật như, tuổi khai thác tinh ở 32 tuần tuổi, bắt đầu tập nọc lúc 28 tuần, trong năm đầu tiên 1 lấy 1 lần/ tuần, còn trên 1 năm tuổi 2 lần/ tuần. Từ những ưu điểm của con giống GF24 với GF399 và GF337, nhiều trang trại đã và đang nhập về nuôi thương phẩm. Việc đánh giá một cách có hệ thống về khả năng sinh trưởng của lợn thương phẩm lai bởi tổ hợp lai (♂399 x ♀GF24) là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự phân công và yêu cầu của công ty GreenFarm. Đề tài “ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN THỊT THƯƠNG PHẨM GIAI ĐOẠN 70 - 161 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI CÔNG TY GREENFARM HƯNG YÊN” đã được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn lợn từ 70 đến 161 ngày tuổi. YÊU CẦU - Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu liên quan đến khả năng sinh trưởng và phát triển của lợn thịt thương phẩm nuôi tại trang trại. - Nắm vững quy trình, cách thức chăn nuôi tại trại.
- Các số liệu trung thực, khách quan. 2 Phần II TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ GIỐNG LỢN NGHIÊN CỨU Giống GF24 là giống lợn từ Mỹ của tập đoàn PIC-tập đoàn con giống số 1 thế giới, hiện nay chúng được nuôi rộng khắp các nước trên thế giới. Giống GF24 có nhiều đặc điểm ưu việt như khả năng thích nghi cao với mọi điều kiện chăn nuôi ngay từ giai đoạn đầu nhập trại, cơ thể mang gen kháng E.coli chủng F18, năng suất ổn định ngay từ lứa đẻ đầu tiên, tỉ lệ chọn nuôi trung bình là 13 con /lứa/ nái.
Thời gian lên giống nhanh từ 3-5 ngày. Với lợn đực giống ♂399 có đặc điểm sinh sản nổi bật như: tuổi khai thác tinh ở 32 tuần tuổi, bắt đầu tập nọc lúc 28 tuần tuổi, trong năm đầu tiên lấy 1 lần/tuần, còn trên 1 năm tuổi 2 lần/tuần. Thừa hưởng những ưu điểm của lợn bố mẹ, lợn thương phẩm của tổ hợp lai (♂399 x ♀GF24) có nhiều ưu điểm vượt trội như mang gen kháng E.coli, khả năng tăng trọng nhanh, FCR thấp, tỷ lệ nạc cao tuy nhiên còn một số hạn chế như lợn dễ bị stress, chân của con thương phẩm có kích thước khá nhỏ dễ bị chấn thương. CƠ SỞ KHOA HỌC 2.
Đặc điểm tiêu hóa của lợn Lợn là gia súc dạ dày đơn. Cấu tạo bộ máy tiêu hoá của lợn bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn. Khả năng tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thường có tỷ lệ từ 80-85% tùy từng loại thức ăn. Quá trình tiêu hoá Miệng: thức ăn ở miệng được cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn với nước bọt làm trơn để được nuốt trôi xuống dạ dày.
Nước bọt chứa phần lớn là nước (tới 99%) trong đó chứa enzym amylase có tác dụng tiêu hoá 3 tinh bột, tuy nhiên thức ăn trôi xuống dạ dày rất nhanh nên việc tiêu hoá tinh bột xảy ra nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn chưa trộn với dịch dạ dày. Độ pH của nước bọt khoảng 7,3. Dạ dày: Dạ dày của lợn trưởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng như là nơi dự trữ và tiêu hoá thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày chứa chủ yếu là nước với enzym pepsin và axit chlohydric (HCl).
Men pepsin chỉ hoạt động trong môi trường axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0. Pepsin giúp tiêu hoá protein và sản phẩm là polypeptit và ít axit amin. Ruột non: Ruột non có độ dài khoảng 18 – 20 mét. Thức ăn sau khi được tiêu hoá ở dạ dày chuyển xuống ruột non được trộn với dịch tiết ra từ tá tràng, ganvà tụy – thức ăn chủ yếu được tiêu hoá và hấp thụ ở ruột non với sự có mặt của mật và dịch tuyến tụy.
Mật được tiết ra từ gan chứa ở các túi mật và đổ vào tá tràng bằng ống dẫn mật giúp cho việc tiêu hoá mỡ. Tuyến tụy tiết dịch tụy có chứa mentrypsin giúp cho việc tiều hoá protein, men lipase giúp cho tiêu hoá mỡ và men diastase giúp tiêu hoá carbohydrate. Ngoài ra ở phần dưới của ruột non còn tiết ra các men maltase, saccharose và lactase để tiêu hoá carbohydrate. Ruột non cũng là nơi hấp thụ các chất dinh dưỡng đã tiêu hoá được, nhờ hệ thống lông nhung trên bề mặt ruột non mà bề mặt tiếp xúc và hấp thu chất dinh dưỡng tăng lên đáng kể.
Ruột già: Ruột già chỉ tiết chất nhầy không chứa men tiêu hoá. Chỉ ở manh tràng có sự hoạt động của vi sinh vật giúp tiêu hoá carbohydrate, tạo ra các axit béo bay hơi, đồng thời vi sinh vật cũng tạo ra các vitamin K , B. Tiêu hóa ở xoang miệng Amylase nước bọt có hoạt tính cao ở lợn con cho đến 21 ngày tuổi. Tùy theo lượng thức ăn và lượng sữa tiết ra khác nhau, thức ăn có phản ứng axit yếu và khôthì nước bọt chủ yếu để tẩm ướt và làm mềm thức ăn.
Lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lần cho ăn, chất lượng thức ăn. Nếu lợn con ăn chỉ một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho một tuyến, gây 4 ức chế, lợn ít thèm ăn. Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, cả hai tuyến hoạt động, không gây ức chế. Nếu cho ăn nhiều loại thức ăn đổi bữa thì lợn sẽ thèm ăn, tiết nước bọtliên tục, giúp tiêu hóa tốt thức ăn.
Tiêu hóa ở dạ dày Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số enzym tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu. Khoảng 25 ngày đầu sau đẻ enzym pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn. Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con mới có HCl ở dạng tự do và enzym pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạt hóa thành pepsin hoạt động vàmới có khả năng tiêu hóa. Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa.
Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000). Tiêu hóa ở ruột Sự tiêu hóa ở ruột nhờ tuyến tụy, tuyến tụy tiết ra dịch tụy theo ống dẫn tụy Wirsung đổ vào tá tràng. Dịch tụy có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tiêu hóa: có sự phân giải từ 60-80% protein thành axit amin, gluxit và lipit của thức ăn. Trong dịch tụy chứa các enzym phân giải protein, enzym phân giải bột đường và enzym phân giải mỡ.
Độ kiềm của dịch tụy tăng theo tuổi và cường độ tiết. Khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng Tiêu hóa thức ăn ở lợn là quá trình làm nhỏ các chất hữu cơ trong đường tiêu hóa như: protein, carbohydrat, lipit để cơ thể có thể hấp thu được. Tiêu hóa có thể dẫn diễn ra theo các quá trình: (1) Quá trình cơ học: nhai nuốt hoặc sự co bóp của cơ trong đường tiêu hóa để nghiền nhỏ thức ăn. (2) Quá trình hóa học: là quá trình tiêu hóa nhờ các enzym tiết ra từ các tuyến trong đường tiêu hóa.
Quá trình vi sinh vật: là quá trình tiêu hóa nhờ bacteria và protozoa. Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ dày, ruột non. Trong một ngày đêm, dạ dày phân giải 45% carbohydrat, 50% protein, 20-25% đường. Dạ dày và ruột non phân giải và hấp thu 85% đường và 87% protein, ruột 5 già chỉ còn không quá 10-15% (Trương Lăng, 2003).
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước hoặc khối lượng của vật nuôi do có sự tăng lên về số lượng và thể tích tế bào. Mối liên hệ giữa khối lượng và tuổi của vật nuôi được thể hiện bằng đồ thị hình chữ S. Giai đoạn trước thành thục sinh dục có tốc độ sinh trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm dần cho đến khi đạt ổn định về khối lượng, lúc này vật nuôi thành thục về thể vóc. Khả năng sinh trưởng được mô tả bằng sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.
Sinh trưởng tuyệt đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật nuôi tăng lên với khoảng thời gian để tăng được khối lượng đó. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng tăng khối lượng trung bình hàng tháng (kg/tháng) hoặc hàng ngày (g/ngày).