Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá sinh trưởng của Lim xanh trồng trong mô hình làm giàu rừng ở xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Ngọc Thái, ngành Nông lâm kết hợp, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (niên khóa 2013 – 2017) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Thắng và ThS. Trần Thị Thanh Tâm.

Về bối cảnh thực tiễn, diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam từng suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức và tập quán đốt nương làm rẫy, với độ che phủ toàn quốc giảm từ 43% năm 1943 xuống còn 27,2% vào năm 1993, bình quân giai đoạn 1980 – 1990 mỗi năm mất hơn 100.000 ha rừng. Nhằm đảo ngược tình trạng này, các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 327 và Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (Dự án 661) đã được triển khai. Tại xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, diện tích rừng tự nhiên phần lớn là rừng nghèo kiệt phục hồi sau nương rẫy. Tháng 8 năm 2004, Dự án RENFODA đã tiến hành phục hồi rừng tự nhiên tại Khoảnh 4 thuộc xã Bình Thanh thông qua giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm giàu rừng: trồng bổ sung 5 loài cây bản địa có giá trị kinh tế gồm Lim xanh, Re gừng, Sồi phảng, Trám trắng và Dẻ đỏ theo hai phương thức là theo rạch và theo đám. Đến năm 2006, mô hình làm giàu rừng bằng cây Lim xanh theo rạch được thiết lập chuyên biệt. Sau 11 năm sinh trưởng (2006 – 2017), việc điều tra và đánh giá định lượng về khả năng thích ứng, tỷ lệ sống, mức độ tăng trưởng và cấu trúc chất lượng của Lim xanh là cơ sở khoa học để kiểm chứng tính khả thi của mô hình.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:

  • Bổ sung những hiểu biết có hệ thống về các đặc điểm sinh trưởng của cây Lim xanh 11 tuổi trồng trong mô hình làm giàu rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
  • Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và năng suất của rừng tự nhiên nghèo kiệt trong khu vực.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 5 nội dung chính:

  1. Tổng hợp một số đặc điểm hình thái và sinh thái lâm học của cây Lim xanh.
  2. Đánh giá tỷ lệ sống của cây Lim xanh 11 tuổi trong mô hình làm giàu rừng.
  3. Đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) của cây Lim xanh.
  4. Đánh giá sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) của cây Lim xanh.
  5. Đánh giá năng suất trữ lượng và phân cấp chất lượng lâm phần Lim xanh theo phương pháp Kraft.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Lim xanh (Erythrophleum fordii) 11 năm tuổi (trồng năm 2006, nghiệm thu điều tra năm 2017) được trồng theo phương thức làm giàu rừng theo rạch với mật độ ban đầu là 556 cây/ha (cự ly hàng cách hàng 6 m, cây cách cây trên rạch 3 m).
  • Phạm vi không gian: Khoảnh 4, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực ven sông Đà, nằm trong vành đai bảo vệ đầu nguồn nước của tỉnh Hòa Bình, có địa hình đồi bát úp với độ dốc trung bình 10 – 15°, độ cao bình quân toàn huyện khoảng 399 m so với mực nước biển.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu thực địa vào năm 2017, thời điểm lâm phần đạt 11 năm tuổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các căn cứ pháp lý, khung lý thuyết và tiêu chuẩn lâm sinh sau:

  • Khung văn bản pháp lý: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 với quy định phân loại rừng phòng hộ thành 3 cấp xung yếu (rất xung yếu, xung yếu và ít xung yếu); Quy phạm kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng gỗ và tre nứa do Bộ Lâm nghiệp ban hành năm 1992; Quy phạm về khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung để làm giàu rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 1998.
  • Khung lý thuyết phục hồi rừng và làm giàu rừng: Dựa trên quan điểm sinh thái học coi phục hồi rừng là tiến trình tái tạo hệ sinh thái bền vững có cây gỗ làm nòng cốt; kế thừa nguyên lý mở rạch trồng rừng của Aubreville (1932), tiêu chuẩn kỹ thuật làm giàu rừng nhiệt đới của Dawkins do FAO ban hành, lý luận làm giàu rừng của J. Wyatt-Smith (1995); hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978); mô hình cấu trúc rừng tự nhiên chuẩn của Nguyễn Văn Trương (1984, 1985), Vũ Đình Phương (1988) và Bảo Huy (1993).
  • Phương pháp kế thừa: Tổng hợp tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, kinh tế – xã hội của huyện Cao Phong; tư liệu kỹ thuật từ Dự án RENFODA; các công trình nghiên cứu về cây Lim xanh của Lưu Phạm Hoành (1960), Phùng Ngọc Lan (1994), Hoàng Vũ Thơ (1998), Đỗ Thị Quế Lâm (2003), Vi Hồng Khanh (2003) và nghiên cứu so sánh về sinh trưởng Lim xanh 10 tuổi tại Bình Phước của Phạm Văn Bốn (2008).
  • Phương pháp điều tra thực nghiệm hiện trường: Áp dụng phương pháp điều tra sinh thái lâm học thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn (ÔTC) tạm thời được bố trí ngẫu nhiên đại diện trong mô hình rừng trồng. Đề tài thiết lập 3 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích 500 $m^2$ (kích thước 20 m x 25 m), tổng diện tích điều tra trực tiếp là 1.500 $m^2$.
  • Kỹ thuật đo đếm chỉ tiêu lâm học trong ô tiêu chuẩn:
    • Đo chu vi ngang ngực ($C_{1.3}$) của toàn bộ cây Lim xanh trong ô bằng thước dây rồi quy đổi sang đường kính ngang ngực $D_{1.3}$ ($D_{1.3} = C_{1.3}/\pi$).
    • Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng sào tiêu chuẩn có chia vạch độ chính xác đến 20 cm.
    • Đo đường kính hình chiếu tán lá ($D_t$) theo hai hướng trực giao Đông – Tây và Nam – Bắc bằng thước dây, lấy giá trị trung bình cộng.
    • Phân cấp sinh trưởng cây rừng theo phương pháp Kraft cải tiến cho rừng trồng:
      • Cấp I: Cây sinh trưởng tốt nhất, tán phát triển đều, có chiều cao và đường kính lớn nhất, chiều cao vượt chiều cao bình quân lâm phần từ 15% trở lên.
      • Cấp II: Cây sinh trưởng tốt, tán phát triển đều, chiều cao lớn hơn chiều cao bình quân lâm phần từ 10% đến 15%.
      • Cấp III: Cây sinh trưởng yếu, bị chèn ép nhưng còn sức sống, tán kém phát triển hoặc lệch, chiều cao nhỏ hơn chiều cao bình quân từ 10% trở lên.
  • Nguồn dữ liệu và phương pháp xử lý: Số liệu thô đo đếm thực địa được tổng hợp và tính toán thống kê toán học bằng phần mềm Microsoft Excel. Các thông số thống kê cơ bản gồm giá trị trung bình ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến động ($S%$), tỷ lệ sống (%), trữ lượng thân cây đứng bình quân ($M$) và lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính ($\Delta D$), chiều cao ($\Delta H$) và thể tích ($\Delta M$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này làm rõ tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với môi trường sinh thái, bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước đầu nguồn và phòng chống thiên tai. Tác giả phân tích thực trạng rừng tự nhiên Việt Nam bị suy thoái mạnh qua các thập kỷ và nhấn mạnh sự cần thiết của việc tuyển chọn các loài cây gỗ bản địa ưu thế để làm giàu rừng. Dự án RENFODA năm 2004 tại Khoảnh 4 xã Bình Thanh đã thử nghiệm 5 loài cây bản địa; sau 3 năm, Lim xanh chứng minh được khả năng thích nghi cao, vươn lên tham gia tầng A2 của tán rừng. Luận văn xác định mục tiêu đánh giá sinh trưởng Lim xanh sau 11 năm trồng (2006 – 2017) nhằm tạo cơ sở khoa học cho công tác phục hồi rừng nghèo kiệt tại vùng lòng hồ sông Đà.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tác giả tổng hợp lịch sử nghiên cứu làm giàu rừng trên thế giới từ các thử nghiệm mở rạch tại Bờ Biển Ngà của Aubreville (1932), các nghiên cứu của FAO, Wyatt-Smith (1995) tại Malaysia, đến các thực nghiệm mật độ rừng trồng của Newbery (1992) tại Papua New Guinea và Queensland. Tại Việt Nam, tổng quan ghi nhận các công trình về cấu trúc rừng và làm giàu rừng của Thái Văn Trừng, Nguyễn Văn Trương, Triệu Văn Hùng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (1990 – 1995), Hồ Đức Soa (1997 – 2000), Nguyễn Quang Khải (2001 – 2005). Các nghiên cứu chuyên sâu về Lim xanh của Phùng Ngọc Lan (1994), Hoàng Vũ Thơ (1998), Đỗ Thị Quế Lâm (2003) và Phạm Văn Bốn (2008) được phân tích để thiết lập khung so sánh sinh thái. Phần này cũng trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng (đất đỏ vàng, mùn đỏ vàng), khí hậu nhiệt đới gió mùa (nhiệt độ bình quân 22 – 24°C, lượng mưa 1.800 – 2.000 mm nhưng phân bố lệch vào các tháng 7, 8, 9) và tình hình kinh tế – xã hội của huyện Cao Phong (dân số 42.000 người, người Mường chiếm 73,2%, người Kinh chiếm 24,6%).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Văn bản quy định chi tiết đối tượng nghiên cứu là cây Lim xanh 11 tuổi trồng theo rạch với mật độ 556 cây/ha. Phương pháp điều tra áp dụng là lập 3 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên diện tích 500 $m^2$ (20 x 25 m) tại Khoảnh 4. Nội dung quy định đầy đủ các công thức tính tỷ lệ sống, đường kính $D_{1.3}$, chiều cao $H_{vn}$, đường kính tán $D_t$, phân cấp sinh trưởng Kraft và quy đổi trữ lượng lâm phần từ ô tiêu chuẩn lên quy mô 1 ha bằng hệ số quy đổi ($10.000 / 500 = 20$).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố toàn bộ dữ liệu thực địa sau 11 năm trồng của mô hình làm giàu rừng:

Khái quát đặc điểm sinh học và giá trị của loài Lim xanh: Cây gỗ lớn, vỏ có hàm lượng tanin đạt 15,21%. Gỗ có tỷ trọng 0,94; sức nén dọc thớ 608 $kg/cm^2$, chịu oằn 1.546 $kg/cm^2$, hệ số co rút 0,47 – 0,61. Cây có nốt sần cố định đạm; rễ hoai mục là giá thể cho nấm linh chi (Ganoderma lucidum). Cây non 4 – 5 tháng tuổi chịu bóng (thích hợp độ tàn che 50%), trên 5 tuổi chuyển sang đòi hỏi ánh sáng hoàn toàn.

Tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống của Lim xanh 11 tuổi duy trì ở mức cao và đồng đều giữa các ô tiêu chuẩn:

Ô tiêu chuẩn Tỷ lệ sống (%)
ÔTC 1 89,3
ÔTC 2 92,8
ÔTC 3 89,3
Trung bình 90,5

Sinh trưởng đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$): Đường kính ngang ngực trung bình toàn lâm phần đạt 7,9 cm, tăng trưởng đường kính bình quân đạt 0,72 cm/năm. Hệ số biến động đường kính trung bình là 17,8%, chứng tỏ độ đồng đều về đường kính thân cây tương đối ổn định:

Chỉ tiêu ÔTC 1 ÔTC 2 ÔTC 3 Trung bình
Đường kính trung bình $D_{1.3}$ (cm) 7,8 8,4 7,6 7,9
Lượng tăng trưởng $\Delta D$ (cm/năm) 0,71 0,76 0,69 0,72
Hệ số biến động $S%$ (%) 18,2 10,5 24,5 17,8

Sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$): Chiều cao vút ngọn trung bình đạt 10,9 m, lượng tăng trưởng chiều cao bình quân đạt 1,0 m/năm. Hệ số biến động chiều cao đạt trung bình 27,8%, lớn hơn so với biến động về đường kính:

Chỉ tiêu ÔTC 1 ÔTC 2 ÔTC 3 Trung bình
Chiều cao trung bình $H_{vn}$ (m) 10,8 11,4 10,5 10,9
Lượng tăng trưởng $\Delta H$ (m/năm) 0,98 1,04 0,95 1,00
Hệ số biến động $S%$ (%) 28,1 23,9 31,4 27,8

Phân cấp sinh trưởng theo phương pháp Kraft: Kết quả phân cấp phản ánh sự phân hóa mạnh mẽ về vị thế tầng tán của các cá thể Lim xanh trong mô hình rạch:

Ô tiêu chuẩn Cấp I (%) Cấp II (%) Cấp III (%)
ÔTC 1 36,0 0,0 64,0
ÔTC 2 23,1 0,0 76,9
ÔTC 3 24,0 8,0 68,0
Trung bình 27,7 2,7 69,6

Năng suất trữ lượng gỗ thân cây: Với mật độ ban đầu 556 cây/ha và tỷ lệ sống hiện tại 90,5% (mật độ hiện còn khoảng 503 cây/ha), trữ lượng Lim xanh 11 tuổi được tính toán như sau:

Chỉ tiêu ÔTC 1 ÔTC 2 ÔTC 3 Trung bình
Trữ lượng trên ô tiêu chuẩn ($m^3$/500 $m^2$) 0,75 0,77 0,72 0,748
Trữ lượng quy đổi trên ha ($m^3$/ha) 15,0 15,4 14,4 14,95
Lượng tăng trưởng trữ lượng ($\Delta M$, $m^3$/ha/năm) 1,36 1,40 1,31 1,36

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các chỉ số sinh trưởng định lượng cốt lõi và đưa ra 2 kiến nghị kỹ thuật: tiếp tục nghiên cứu cấu trúc tuổi từ 1 – 15 tuổi bằng phương pháp giải tích thân cây; mở rộng phạm vi đánh giá trên nhiều trạng thái rừng và các xã khác của huyện Cao Phong.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các phát hiện định lượng cụ thể về mô hình làm giàu rừng bằng Lim xanh 11 tuổi tại xã Bình Thanh:

  • Tỷ lệ sống của Lim xanh đạt mức trung bình 90,5% (dao động từ 89,3% đến 92,8%). Kết quả này cao hơn so với tỷ lệ sống của cây Lim xanh 10 tuổi trồng làm giàu rừng tại Bình Phước do Phạm Văn Bốn (2008) công bố.
  • Khả năng sinh trưởng đường kính ngang ngực đạt trung bình 7,9 cm, tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 0,72 cm/năm. Tốc độ này phù hợp với quy luật sinh trưởng 10 năm đầu của loài Lim xanh (đạt 0,5 – 0,7 cm/năm) theo công bố của Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000). Tuy nhiên, mức tăng trưởng này thấp hơn số liệu cây 10 tuổi tại Bình Phước của Phạm Văn Bốn do điều kiện lập địa tại Bình Phước thuận lợi hơn.
  • Chiều cao vút ngọn trung bình đạt 10,9 m, tăng trưởng bình quân đạt 1,0 m/năm. Biến động chiều cao ($S% = 27,8%$) cao hơn biến động đường kính ($S% = 17,8%$).
  • Năng suất trữ lượng lâm phần đạt 14,95 $m^3$/ha (dao động từ 14,4 đến 15,4 $m^3$/ha), lượng tăng trưởng trữ lượng hàng năm đạt 1,36 $m^3$/ha/năm với mật độ sống thực tế khoảng 503 cây/ha.
  • Đóng góp thực tiễn về cấu trúc lâm học: Kết quả phân cấp Kraft chỉ ra rằng có tới 69,6% số cây Lim xanh thuộc cấp III (sinh trưởng yếu, bị chèn ép tán), trong khi cấp I chiếm 27,7% và cấp II chỉ chiếm 2,7%. Dữ liệu này chứng minh rằng sau giai đoạn non chịu bóng, khi bước sang giai đoạn trên 5 tuổi đòi hỏi ánh sáng hoàn toàn, tán rừng tự nhiên cũ chưa được xử lý mở tán kịp thời đã trở thành yếu tố chèn ép không gian dinh dưỡng và ánh sáng của cây Lim xanh.

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Cần có biện pháp lâm sinh tác động mở tán, chặt tỉa bớt các cây gỗ tái sinh tự nhiên không mục đích hoặc cây bụi che bóng trên băng chừa để giải phóng không gian ánh sáng cho 69,6% số cây Lim xanh đang bị chèn ép ở cấp III.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) có cơ chế cấp kinh phí và quy chế thu hồi, sử dụng gỗ củi sau tỉa thưa để tạo điều kiện cho các đơn vị cơ sở thực hiện mở tán rừng trồng định kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được phản ánh qua phạm vi thực tế của khóa luận:

  • Dung lượng mẫu điều tra còn giới hạn: Đề tài mới chỉ thu thập số liệu trên 3 ô tiêu chuẩn tạm thời (tổng diện tích 1.500 $m^2$) tại Khoảnh 4 thuộc xã Bình Thanh, chưa thực hiện lặp lại trên các trạng thái rừng nghèo kiệt khác nhau.
  • Phương pháp đo đếm: Mới dừng lại ở phương pháp điều tra tĩnh tại một thời điểm (cây 11 tuổi), chưa áp dụng phương pháp giải tích thân cây để truy nguyên chính xác động thái tăng trưởng đường kính, chiều cao và thể tích qua từng năm riêng biệt từ tuổi 1 đến tuổi 11.
  • Thiếu các đo đạc định lượng trực tiếp về cường độ ánh sáng dưới tán rạch và tính chất lý hóa học của đất tại từng vị trí ô tiêu chuẩn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo do tác giả kiến nghị:

  • Tổ chức nghiên cứu đánh giá toàn diện tiến trình sinh trưởng của cây Lim xanh từ 1 đến 15 tuổi bằng phương pháp giải tích thân cây chuyên sâu.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các xã khác trên địa bàn huyện Cao Phong và các vùng sinh thái lân cận có các mô hình làm giàu rừng trên các trạng thái lập địa khác nhau để rút ra kết luận mang tính đại diện cao hơn.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng, Nông lâm kết hợp: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn, kỹ thuật đo đếm lâm học thân cây ($D_{1.3}$, $H_{vn}$, $D_t$), quy trình phân cấp sinh trưởng Kraft và phương pháp xử lý số liệu thống kê lâm nghiệp bằng Excel.
  • Cán bộ kỹ thuật và đơn vị quản lý rừng phòng hộ: Phần số liệu phân cấp Kraft (69,6% cây bị chèn ép ở tuổi 11) là minh chứng kỹ thuật rõ ràng phục vụ việc lập dự toán, xây dựng hồ sơ thiết kế và lập kế hoạch tỉa thưa, mở tán cho các mô hình làm giàu rừng bằng cây bản địa sau 5 – 10 năm trồng.
  • Các nghiên cứu sinh thái học và phục hồi rừng: Bổ sung số liệu thực nghiệm chuẩn xác về tỷ lệ sống, đường kính, chiều cao và sản lượng của loài Lim xanh 11 tuổi tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc phục vụ việc xây dựng đường cong sinh trưởng và mô hình hóa năng suất rừng.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình làm giàu rừng bằng cây Lim xanh tại xã Bình Thanh được trồng với mật độ và phương thức kỹ thuật nào?
Mô hình được trồng vào năm 2006 theo phương thức trồng theo rạch với mật độ ban đầu là 556 cây/ha. Khoảng cách bố trí giữa các hàng rạch là 6 m, khoảng cách giữa các cây Lim xanh trên cùng một rạch là 3 m.

Sau 11 năm trồng, tỷ lệ sống và mật độ thực tế của cây Lim xanh trong mô hình đạt bao nhiêu?
Tỷ lệ sống trung bình của cây Lim xanh qua 3 ô tiêu chuẩn đạt 90,5% (ÔTC 1 đạt 89,3%, ÔTC 2 đạt 92,8%, ÔTC 3 đạt 89,3%). Với mật độ trồng ban đầu 556 cây/ha, mật độ cây sống thực tế còn lại tại thời điểm 11 tuổi đạt khoảng 503 cây/ha.

Tốc độ sinh trưởng bình quân hàng năm về đường kính và chiều cao của Lim xanh đạt mức nào?
Sau 11 năm, đường kính ngang ngực bình quân đạt 7,9 cm (lượng tăng trưởng bình quân hàng năm $\Delta D$ đạt 0,72 cm/năm); chiều cao vút ngọn bình quân đạt 10,9 m (lượng tăng trưởng bình quân hàng năm $\Delta H$ đạt 1,0 m/năm).

Phân cấp sinh trưởng chiều cao theo phương pháp Kraft cho kết quả như thế nào và phản ánh vấn đề kỹ thuật gì?
Kết quả phân cấp Kraft cho thấy: cây cấp I (sinh trưởng tốt nhất) chiếm trung bình 27,7%; cây cấp II (sinh trưởng tốt) chiếm 2,7%; cây cấp III (sinh trưởng yếu, bị chèn ép) chiếm tới 69,6%. Thực tế này phản ánh việc sau 11 năm, tán rừng tự nhiên cũ không được mở tán và tỉa thưa kịp thời, dẫn đến phần lớn cây Lim xanh (vốn là cây đòi hỏi nhiều ánh sáng sau 5 tuổi) bị che bóng và hạn chế không gian dinh dưỡng.

Trữ lượng thân cây gỗ Lim xanh tích lũy được trên 1 ha tại thời điểm 11 tuổi là bao nhiêu?
Trữ lượng gỗ Lim xanh quy đổi bình quân trên 1 ha đạt 14,95 $m^3$/ha (dao động từ 14,4 đến 15,4 $m^3$/ha), tương ứng với mức tăng trưởng trữ lượng bình quân là 1,36 $m^3$/ha/năm.


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Ngọc Thái đã hoàn thành việc đánh giá thực nghiệm các chỉ tiêu sinh trưởng và cấu trúc lâm học của loài Lim xanh 11 tuổi trong mô hình làm giàu rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu chứng minh Lim xanh là loài cây bản địa có tỷ lệ sống cao (90,5%) và tăng trưởng đường kính ổn định (0,72 cm/năm), thích hợp cho mục tiêu nâng cao chất lượng rừng nghèo kiệt sau nương rẫy. Đồng thời, số liệu phân cấp Kraft với 69,6% số cây thuộc cấp III bị chèn ép đã cung cấp luận cứ kỹ thuật xác đáng khẳng định yêu cầu bắt buộc phải thực hiện các biện pháp lâm sinh mở tán và điều chỉnh mật độ định kỳ đối với các mô hình làm giàu rừng theo rạch.