Đặt vấn đề Trong sự phát triển của xã hội loài người, rừng được coi là một nguồn tài nguyên có vai trò vô cùng quan trọng bởi những ảnh hưởng mang tính toàn cầu của nó. Rừng không chỉ cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà còn có nhiều ý nghĩa lớn hơn ở trong nhiều lĩnh vực như: Bảo vệ môi trường sinh thái, phòng hộ chống xói mòn rửa trôi đất, điều hòa khí hậu, du lịch cảnh quan, nghiên cứu khoa học, các giá trị nhân văn khác,. Tuy nhiên, sự tàn phá rừng trong những năm gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống con người, mất rừng gây nên sự biến đổi theo hướng tiêu cực của khí hậu toàn cầu, đất đai bị rửa trôi xói mòn nặng nề, các lòng sông lòng hồ bị bồi lấp, an ninh lương thực bị đe doạ, các sản phẩm từ rừng đang dần bị cạn kiệt Nguyên nhân chủ yếu là con người khai thác lạm dụng, đốt nươnglàm rẫy. Độ che phủ của rừng đã giảm từ 43 % năm 1943 xuống 27,2 % năm 1993;thời kỳ 1980 - 1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng bị mất (Chiến lượcphát triển lâm nghiệp, 2006).
[3] Với sự hiểu biết của mình, trong nhiều năm vừa quangành Lâm nghiệp Việt Nam đã có những chiến lược cụ thể nhằm bảo vệ vàphát triển tài nguyên rừng. Bằng nhiều nỗ lực của toàn ngành và sự giúp đỡcủa các tổ chức Quốc tế, Nhà nước đã quan tâm đầu tư khá lớn tiền của đểtrồng rừng, phục hồi rừng tự nhiên và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng thôngqua các Chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 327, Dự án Trồngmới 5 triệu ha rừng và nhiều Chương trình, Dự án khác trên phạm vi cả nước. Tuy vậy trong một thời gian khá dài tốc độ khai thác lợidụng rừng quá mạnh cộng với nạn phá rừng và sử dụng rừng sai mục đích đãlàm cho rừng tự nhiên giảm sút nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng.Vì vậy, hiện nay toàn 2 ngành nói chung đã và đang quan tâm nhiều đếnviệc nghiên cứu và chọn lựa nhóm cây bản địa ưu thế để trồng rừng và làmgiàu rừng tự nhiên. Rừng tự nhiên tại xã Bình Thanh huyện Cao Phong tỉnh Hoà Bình là một trong những đối tượng rừng nghèo kiệt, được phục hồi sau nương rẫy.
Đây là loại rừng cần tác động các biện pháp phục hồi rừng nhằm nâng cao chất lượng rừng tại khu vực này. Dự án RENFODA đã tiến hành phục hồi rừng tự nhiên tại Khoảnh 4 xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình từ tháng 8 năm 2004 bằng biện pháp kỹ thuật làm giàu rừng thông qua việc trồng bổ sung 5 loài cây bản địa có giá trị kinh tế là Lim xanh, Re gừng, Sồi phảng, Trám trắng và Dẻ đỏ theo rạch và theo đám. Kết quả thí nghiệm làm giàu rừng tại Bình Thanh, Cao Phong, Hoà Bình sau 3 năm cho thấy loài cây Lim xanh có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và có tỷ lệ sống cao. Đến tuổi 3 các loài cây bản địa đã vượt khỏi tầng cây bụi, thảm tươi và bắt đầu tham gia vào tầng A2 của rừng.
Nhìn chung đến thời điểm hiện tại cây Lim xanhđang rất có triển vọng. Do vậy đề tài “Đánh giá sinh trưởng của Lim xanh trồng trong mô hình trồng làm giàu rừng ở xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện là cần thiết.Mục tiêu của đề tài Bổ sung những hiểu biết về các đặc điểm sinh trưởng của cây Lim xanh trồng trong mô hình làm giàu rừng đầu nguồn tại xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, góp phần vào làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tác động thích hợp nhằm từng bước nâng cao chất lượng rừng tự nhiên trong khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài -Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học. + Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất.
3 + Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn từ một số loài cây trồng bản địa. + Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo nghiên cứu khoa học. -Ý nghĩa trong thực tiễn + Qua quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất và khoa học. + Qua những đánh giá cụ thể về bệnh hại chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp và phát triển kinh tế rừng.
+ Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Một số nét chung Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng các loài cây bản địa nói riêng là nội dung quan trọng, cần thiết trong kinh doanh rừng, nhằm lựa chọn các loài cây phù hợp cho từng khu vực để đưa các loài cây này vào công tác trồng rừng và làm giàu rừng, do vậy mô hình trồng rừng phòng hộ mà từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Khái niệm rừng phòng hộ: Theo luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống xa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phần bảo vệ môi trường.
Rừng phòng hộ đầu nguồn được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về diện tích, lượng mưa, độ dốc, độ cao, đất. Quy mô của rừng phòng hộ đầu nguồn phù hợp với quy mô của lưu vực sông và việc quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn gắn với việc quản lý tổng hợp lưu vực sông. Ở Việt Nam, vùng đầu nguồn được phân chia thành 3 cấp với mức độ xung yếu khác nhau: - Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước. - Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình, nơi có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ đất và sử dụng đất.
- Vùng ít xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc thấp, ít nguy cơ xảy ra xói mòn, dòng chảy và các sự cố khác về môi trường. 5 Khái niệm về phục hồi rừng: Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu. Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiên một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán, để phục hồi rừng người ta có thể sử dụng các biện pháp khác nhau tùy theo mức độ tác động của con người là phục hồi nhân tạo (trồng rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con người (xúc tiến tái sinh). Kỹ thuật làm giàu rừng là một trong những giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng bằng cách trồng thêm vào thảm rừng cũ một số lượng nhất định những loài cây gỗ mọc nhanh, có giá trị kinh tế, đồng thời tác động một cách hợp lý nhất để có thể phát huy tối đa tiềm năng sinh học của chúng trong môi trường nền rừng cũ.
Từ những phân tích trên cho thấy, vấn đề khôi phục, cải tạo và phát triển rừng, từng bước hướng tới phát triển bền vững là yêu cầu cấp thiết. Ðể khôi phục và phát triển nâng cao chất lượng rừng, đã có không ít giải pháp kỹ thuật được ứng dụng cho từng địa hình và trạng thái rừng thuộc các vùng khác nhau. Chẳng hạn trồng lại rừng mới trên đất còn tính chất đất lâm nghiệp, trảng cỏ hoặc đất đai bị thoái hóa, cải tạo rừng kém chất lượng bằng cách chặt trắng rồi trồng lại, khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên, hoặc khoanh nuôi có trồng bổ sung cây lâm nghiệp vào vùng rừng nghèo kiệt.Nghiên cứu làm giàu rừng ở trên thế giới Nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên bằng giải pháp làm giàu rừng đãđược nhiều tác giả trên thế giới quan tâm từ rất sớm. Từ những năm 1932 tạiCốt-đi voa, theo đề xuất của giáo sư Aubreville, người ta đã thí nghiệm làmgiàu rừng trên quy mô 13.000ha bằng cách trồng cây theo rạch.
Ngay thờigian này, các nhà khoa học đã nhận thức rằng mở rạch trồng cây phải tạo rađiều kiện tốt nhất 6 để cây trồng trên rạch nhận được ánh sáng trực tiếp từ mặttrời, phần còn lại được che chở trong hoàn cảnh ẩm mát của rừng. Không nênphá bỏ toàn bộ rừng để xây dựng mới hoàn toàn vì việc làm này tốn kém, chỉcần tuyển chọn vài trăm cây trồng bổ sung sẽ tạo ra một trữ lượng gỗ tậptrung theo mục đích kinh tế. Ở Đông Dương, theo tác giả P.Maurand, vào những năm 1920 người tađã thực hiện giải pháp làm giàu rừng bằng việc trồng dặm hoặc gieo hạt thẳngcác loài cây giá trị kinh tế. Song kết quả không theo mong muốn vì tỷ lệ câysống thấp lại phải cạnh tranh với dây leo cây bụi.Dawkins một chuyên gia lâm nghiệp nhiệt đới đã tổng kết phươngpháp và xây dựng một bảng tiêu chuẩn kỹ thuật làm giàu rừng.
Bảng tiêuchuẩn kỹ thuật này đã được FAO chấp nhận và ấn hành trên nhiều sách kỹthuật lâm nghiệp nhiệt đới. [27] Nghiên cứu về đối tượng làm giàu rừng, tác giả J.Wyatt-Smith (1995) [28] chorằng làm giàu rừng là trồng bổ sung những loài cây có giá trị kinh tế vàonhững nơi thiếu hụt những cây có giá trị kinh tế ở rừng sau khai thác đã phụchồi lớp cây che phủ thứ sinh. và Weiland, G (1993) [24] trong cuốn sách “Planting quality timber trees in Peninsular Malaysia-a review” đã tổng quan những kinhnghiệm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, tiến trình lịch sử và cuộc tranhluận lớn về quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng, bao gồm cả những sai lầm vềcơn sốt cây nhập nội mọc nhanh; các tác giả đã thảo luận về các nguyên tắc sửdụng các loài cây tiềm năng cho trồng rừng; trong cuốn sách này, hơn 40 loàicây đã được hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng lấy gỗ. và Newton,AQ.
Những khó khăn trong việc trồng rừnggỗ 7 lớn mọc nhanh, đặc biệt đối với cây bản địa đã được các tác giả nêu lên từrất sớm.