ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, với sự đổi mới toàn diện, từ công tác giống, thức ăn, phòng trừ dịch bệnh đàn gia cầm và sự phát triển khoa học kỹ thuật nên ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đã có những sự phát triển lớn. Mặc dù dịch cúm gia cầm đang diễn biến phức tạp ở nhiều tỉnh thành trên cả nƣớc gây nhiều khó khăn cho chăn nuôi gia cầm nhƣng sản xuất gia cầm trên phạm vi toàn cầu vẫn tăng trƣởng khá cao; tăng 1,3% so với năm 2020; tổng sản lƣợng thịt năm 2021 đã tăng 2,2% so với năm 2020 (Kim Xuân, 2022). Trong thập niên tới (2021 – 2030), FAO dự đoán sản lƣợng thịt gia cầm tiếp tục tăng trƣởng cao và tăng nhanh hơn so với sự tăng trƣởng của các loại thịt khác. Đến năm 2030, thịt gia cầm sẽ chiếm tỷ trọng trên 41% tổng các loại thịt sản xuất và trên 52% tổng thịt thƣơng mại (Kim Xuân, 2022).
Hiện nay, giống gà Ross 308 là một trong những giống gà đƣợc ngƣời chăn nuôi nƣớc ta ƣa chuộng. Gà Ross là giống gà công nghiệp siêu thịt của Scotland (Vƣơng quốc Anh), đƣợc nhập về Việt Nam từ hơn mƣời năm nay. Gà Ross gồm nhiều dòng để lai tạo tổ hợp lai nhƣ: Ross 208, Ross 308, Ross 508…và gà Ross 308 đƣợc đánh giá là con giống khỏe mạnh, phát triển nhanh và tỉ lệ thịt cao, đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách hàng về mặt ổn định năng suất và tính linh hoạt cao. Tập đoàn Aviagen - Nhà lai tạo gà thịt Aviagen cung cấp gà con ông bà và cha mẹ một ngày tuổi cho khách hàng tại hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới dƣới tên thƣơng hiệu Arbor Acres, Indian River và Ross.
Những thƣơng hiệu này đã đƣợc công nhận và có uy tín trong ngành. Giống gà Ross 308 đã đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đƣợc công nhận là giống gà thịt cho hiệu quả chăn nuôi cao nên đƣợc nhiều nhà chăn nuôi trên thế giới lựa chọn. Trong chăn nuôi gà thịt, hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ con giống, thức ăn,. Do vậy, nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin về một số các yếu tố có thể ảnh 1 hƣởng đến khả năng sinh trƣởng của gà Ross 308, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của gà Ross 308 nuôi tại Công ty Cổ phần Gia cầm Tất Thắng ở Thanh Sơn – Phú Thọ”.
Mục đích- yêu cầu 1. Mục đích - Cung cấp thông tin cần thiết về khả năng sinh trƣởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Ross 308 để ngƣời chăn nuôi có định hƣớng tƣơng lai. - Xác định hiệu quả chăn nuôi gà Ross 308 của Công ty Cổ phần Gia cầm Tất Thắng tại Thanh Sơn- Phú Thọ. Yêu cầu - Tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vệ sinh, nuôi dƣỡng, chăm sóc, công tác thú y của công ty.
- Theo dõi đầy đủ, ghi chép, thu thập số liệu, thông tin một cách khách quan, chân thực và kế thừa. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH CỦA GIA CẦM 2. Khái niệm ngoại hình Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến sức khỏe, cấu tạo, chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể cũng nhƣ khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm và là hình dáng đặc trƣng của một số giống gia súc, gia cầm.
Tổ tiên của gia cầm là các loài chim hoang dại, tiến hóa lên từ lớp bò sát nên chúng còn mang rất nhiều đặc điểm của lớp động vật này. Vì thế, gia cầm mang một số đặc điểm về ngoại hình rất khác so với các loài động vật khác. Theo Đác-Uyn, nếu cơ thể chỉ phát triển mạnh ở một chiều hƣớng thì chiều hƣớng khác sẽ bị hạn chế làm cho cơ thể bị mất cân đối. Sự phát triển quá mức của một bộ phận hay một chức năng sẽ làm cho các bộ phận và chức năng khác bị ảnh hƣởng.
Đặc điểm ngoại hình của gia cầm - Đặc điểm lông, da Lông là sản phẩm của da, bao phủ toàn bộ cơ thể gia cầm. Lông gồm hai phần chính là gốc lông (phần nằm ở trong da) và trục lông (phần nằm ở bên ngoài). Trục lông gồm thân lông và phiến lông. Các loại lông đƣợc phân biệt theo cấu trúc và chức năng của chúng.
Lông gia cầm đƣợc chia thành 5 loại: lông ống, lông nệm (lông bông), lông chỉ, lông chổi và lông tơ. Lông của các loài và giống gia cầm khác nhau thì khác nhau, chúng tạo nên đặc trƣng về hình dạng bên ngoài của gia cầm. - Lông ống: thân lông cứng, phiến lông dày xít. Gồm 3 loại: lông ống thân, lông ống cánh và lông ống đuôi.
- Lông nệm: thân ngắn, phiến lông mềm nằm dƣới lông ống nhẹ, xốp, cùng với lông ống giúp gia cầm không bị lạnh. - Lông chỉ: là lông hình sợi, rất mảnh, mọc thành từng nhóm nhỏ. 3 - Lông chổi: có thân tƣơng đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ, mọc xung quanh lỗ thoát chất tiết của tuyến phao câu. - Lông tơ: chỉ có một thân mỏng, không có phiến lông, mọc chủ yếu ở gốc mỏ, thỉnh thoảng ở ngón chân, trên mắt.
Lông gia cầm thực hiện các chức năng khác nhau nhƣ bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hƣởng xấu của điều kiện môi trƣờng, điều hòa nhiệt và chức năng xúc giác. Một số lông chuyên dùng để bay một số khác là dấu hiệu sinh dục thứ cấp của gia cầm. Da của gia cầm bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trƣờng, nhất là gia cầm non. Da gồm hai phần chính lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ, lớp mô liên kết mỏng và sợi collagen tạo thành lớp da ngoài bền chắc, ít mạch máu và hầu nhƣ không có tuyến ngoại tiết.
Dƣới lớp biểu bì là lớp mô liên kết mỏng gần giống nhƣ mô mỡ, có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh. Đặc điểm lớn nhất của da gia cầm là mỏng, ít các tuyến dƣới da, không có tuyến mồ hôi. Màu vàng của da, chân và lòng đỏ trứng của gia cầm đƣợc quyết định bởi hàm lƣợng sắc tố xanthophyl cung cấp thông qua con đƣờng thức ăn. Xanthophyl nằm trong lớp mỡ dƣới da và các sắc tố này còn có tác dụng làm đậm màu một số các sản phẩm của gia cầm.
Chúng chỉ đƣợc cung cấp từ thức ăn có xanthophyl nhƣ ngô vàng, bột thức ăn xanh, dầu gấc… - Màu sắc lông, da Là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc lông, da là những chỉ tiêu dùng trong chọn lọc gia cầm. Thông thƣờng các giống thuần màu thƣờng đồng nhất, trên cơ sở đó có thể nói các gia cầm có màu lông không đồng nhất là do giống đã bị pha tạp. Màu sắc do kiểu gen kiểm soát nên có thể sử dụng phân tích di truyền để dự đoán màu sắc của đời sau trong chọn lọc.
Sắc tố da, lông của gà đƣợc xác định bằng 2 loại sắc tố chính là xanthophyl và melanin. Xanthophyl là sắc tố màu vàng đƣợc lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da, những cá thể có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp theo gen mà alen 4 trội của nó (W) hạn chế sự tích lũy cơ - xanthophyl trong máu và mỡ. Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi. Màu sắc lông gia cầm gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin và lipocrom.
Tiền sắc tố melani là melanogen, sự oxy hóa melanogen ở các mức khác nhau sẽ cho ra các màu lông khác nhau. Màu sắc lông rực rỡ của một số giống gia cầm đƣợc tạo bởi sắc tố khác là lipocrom. Chúng làm cho lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời, xanh lá cây, mỗi cá thể có thể có một hoặc nhiều màu. Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là gia cầm bạch tạng, thƣờng thấy ở các giống gia cầm siêu thịt, do kết quả chọn lọc định hƣớng của các nhà tạo giống để tạo ra sản phẩm gà broiler có da sạch phù hợp thị hiếu ngƣời dùng.
Có thể ăn cứ vào màu sắc, trạng thái và sự phát triển của mào mà đánh giá tình trạng sức khỏe, sự phát dục và sức sản xuất của gia cầm. Khi gia cầm khỏe mạnh, nhất là khi thành thục sinh dục, mào và tích có màu đỏ rực rỡ. Khi gia cầm đẻ nhiều thì mào và tích trở nên nhợt nhạt, trong trƣờng hợp gia cầm bị ốm thì mào tích trở nên tím tái, đó là dấu hiệu đầu tiên đánh giá gia cầm ốm. Mào gà có 4 loại: mào đơn (mào cờ) thƣờng có ở gà Ri, gà Mía; mào hoa hồng (mào giống nhƣ hoa mào gà) ở gà Hồ, gà Đông Tảo; mào quả dâu và mào hình hạt đậu ở gà chọi.
- Mỏ Mỏ là thể sừng chắc do biểu bì dày lên. Mỏ dùng để lấy thức ăn, tùy từng loài gia cầm khác nhau mà mỏ có hình dạng, kích thƣớc không giống nhau. Gà Tây và chim Bồ câu có mỏ ngắn, nhọn, hơi cứng và hơi cong về phía dƣới. Vịt, ngan, ngỗng có mỏ dài, dẹt, đoạn cuối của nó cong tròn và cong về phía dƣới.
Đƣờng vành mỏ trên có thêm những răng nhỏ bằng sừng hoặc những miếng nhỏ 5 dùng để lọc nƣớc đi qua và cắt đứt rau, cỏ (Nguyễn Thị Mai, 2006). Hơn nữa móng, cựa, vảy của gia cầm là các cấu trúc hóa sừng của biểu mô phát triển thành có tác dụng bảo vệ cơ thể và chức năng tự vệ, kiếm mồi. - Chân Chân gà có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón. Cổ, bàn và ngón chân thƣờng có vảy sừng bao kín, có tiêu giảm chỉ còn gân và da.
Chân thƣờng có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VỀ GIA CẦM Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xƣơng nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trƣớc phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non. Quá trình trao đổi chất của gia cầm lớn thân nhiệt cao (40 – 42°C) nhờ đó mà gia cầm sinh trƣởng nhanh.
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận nhƣ: hệ tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục. Những cấu tạo giải phẫu sinh lý của gia cầm lại có nhiều đặc điểm khác với gia súc. Đặc biệt là hệ hô hấp và tiêu hóa.