ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gia cầm là một ngành sản xuất truyền thống của nước ta, hàng năm cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho người tiêu dùng. Việt Nam đang đứng ở vị trí thứ 20 trên thế giới về sản xuất lượng thịt gia cầm. Đời sống kinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó là nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao, vì vậy ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng ngày càng phát triển. Mức sản xuất và tiêu thụ thịt, trứng gia cầm không ngừng tăng qua các năm.
Ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay ở nước ta đang phát triển mạnh theo 2 hướng chính: Thứ nhất, chăn nuôi công nghiệp: Sử dụng các giống chuyên dụng cao sản, nuôi thâm canh nhằm tạo ra sản lượng thịt, trứng cao nhất, chăn nuôi hiệu quả trong thời gian ngắn nhất. Chăn nuôi công nghiệp ước tính đạt khoảng 18 – 20% tổng sản phẩm gia cầm. Thứ hai, chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, trang trại nông lâm kết hợp, chăn nuôi thả vườn, chăn nuôi truyền thống trong nông hộ quy mô nhỏ lẻ,. tận dụng nguồn thức ăn rẻ tiền và điều kiện tự nhiên sẵn có tạo sản phẩm có chất lượng thịt cao, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Trên tổng đàn gia cầm chiếm ưu thế vẫn là những giống địa phương nuôi trong nông hộ. Những giống địa phương này có một ưu điểm đó là có chất lượng thịt tốt, phù hợp với thị hiếu của đa số người tiêu dùng. Tuy nhiên năng suất của chúng lại thấp, do đó hiệu quả kinh tế thường không cao. Nhận ra được nhu cầu của thị trường và yêu cầu của khách hàng, công ty TNHH LinkFarm đã đẩy mạnh đầu tư vào chăn nuôi gia cầm và đặc biệt là chăn nuôi gà.
Với lợi thế về năng suất thịt cao và chất lượng thịt tốt, công ty đã thực hiện nhập giống gà lai GF 268 của công ty giống gà Hoà Bình. 1 Để đánh giá khả năng sinh trưởng của con lai GF 268, tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà ri lai GF 268 nuôi tại chuồng 2 - trại Gia cầm LINKFARM, Phú Lộc – Phù Ninh – Phú Thọ”.MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU * Mục đích - Đánh giá về khả năng sinh trưởng của gà lai GF 268 * Yêu cầu - Đánh giá được hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà lai GF268. - Đánh giá được sức sống, khả năng sinh trưởng, lượng thức ăn thu nhận của gà GF 268 qua từng tuần và giai đoạn. - Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng.
- Thu thập số liệu chính xác, trung thực. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH CỦA GIA CẦM 2. Khái niệm ngoại hình Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến sức khỏe, cấu tạo, chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm và là hình dáng đặc trưng của một giống gia súc, gia cầm.
Gà thuộc lớp chim, toàn thân được bao phủ bởi một lớp lông vũ. Lông vũ cùng với da và các sản phẩm khác của da (mào, mào tai, tích, mỏ, vảy và sừng trên trên xương bàn chân) tạo ra hình dáng bên ngoài của gà, Những đặc điểm này dùng để phân loại gia cầm cũng như tính biệt của chúng. Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc điểm đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Gia cầm hướng trứng có hình dáng thon, nhỏ, khối lượng cơ thể thấp, đầu nhỏ, cổ dài, nhanh nhẹn.
Gia cầm hướng thịt có thân hình to, ngực nở, đùi lườn rất phát triển, dáng nặng nề, khối lượng cơ thể lớn. Gia cầm kiêm dụng có hình dáng trung gian giữa gia cầm hướng trứng và gia cầm hướng thịt.Đặc điểm ngoại hình của gia cầm - Đặc điểm lông, da Da của gia cầm bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc trao đổi nhiệt giữa cơ thể với môi trường, nhất là gia cầm non. Da gồm hai phần chính, lớp biểu bì với lớp tế bào hình trụ, lớp mô liên kết mỏng và sợi collagen tạo thành lớp da ngoài bền chắc, ít mạch máu và hầu như không có tuyến ngoại tiết. Dưới lớp biểu bì là lớp mô liên kết mỏng gần giống như mô mỡ, có chứa nhiều mạch máu và dây thần kinh.
Đặc điểm lớn nhất của da gia cầm là mỏng, ít các tuyến dưới da, không có tuyến mồ hôi. 3 Màu vàng của da và chân gia cầm được quyết định bởi hàm lượng sắc tố xanthophyl, xanthophyl nằm trong lớp mỡ dưới da, các sắc tố này còn có tác dụng làm đậm màu của thịt, chúng chỉ được cung cấp từ thức ăn có xanthophyl như ngô vàng, bột thức ăn xanh, dầu gấc… Ngoài ra giống, dòng gia cầm cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu này. Lông là sản phẩm của da, bao phủ toàn bộ cơ thể gia cầm. Lông gồm hai phần chính là gốc lông (phần nằm ở trong da) và trục lông (phần nằm ở bên ngoài).
Trục lông gồm thân lông và phiến lông. Các loại lông được phân biệt theo cấu trúc và chức năng của chúng. Lông gia cầm được chia thành 5 loại: lông ống, lông nệm (lông bông), lông chỉ, lông chổi và lông tơ. Lông của các loài và giống gia cầm khác nhau thì khác nhau, chúng tạo nên đặc trưng về hình dạng bên ngoài của gia cầm.
- Lông ống: thân lông cứng, phiến lông dày xít. Gồm 3 loại: lông ống thân, lông ống cánh và lông ống đuôi. - Lông nệm: thân ngắn, phiến lông mềm nằm dưới lông ống nhẹ, xốp, cùng với lông ống giúp gia cầm không bị lạnh. - Lông chỉ: là lông hình sợi, rất mảnh, mọc thành từng nhóm nhỏ.
- Lông chổi: có thân tương đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ, mọc xung quanh lỗ thoát chất tiết của tuyến phao câu. - Lông tơ: chỉ có một thân mỏng, không có phiến lông, mọc chủ yếu ở gốc mỏ, thỉnh thoảng ở ngón chân, trên mắt. Lông gia cầm thực hiện các chức năng khác nhau như bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng xấu của điều kiện môi trường, điều hòa nhiệt và chức năng xúc giác. Một số lông chuyên dùng để bay một số khác là dấu hiệu sinh dục thứ cấp của gia cầm.
- Màu sắc lông, da Là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc lông, 4 da là những chỉ tiêu dùng trong chọn lọc gia cầm. Các giống gia cầm bản địa, nguyên thủy thường có màu lông sặc sỡ, đa dạng, pha tạp. Các giống gà hiện đại thì có bộ lông đặc trưng, thuần nhất.
Ngày nay, gà siêu thịt thường có lông màu trắng, gà đẻ trứng thương phẩm thường có lông màu nâu. Màu sắc do kiểu gen kiểm soát nên có thể sử dụng phân tích di truyền để dự đoán màu sắc của đời sau trong chọn lọc. Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng 2 loại sắc tố chính là xanthophyl và melanin. Xanthophyl là sắc tố màu vàng được lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da, những cá thể có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế sự tích lũy cơ - xanthophyl trong máu và mỡ.
Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi. Màu sắc lông gia cầm gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố Melanin và lipocrom. Tiền sắc tố Melani là melanogen, sự oxy hóa melanogen ở các mức khác nhau sẽ cho ra các màu lông khác nhau. Màu sắc lông rực rỡ của một số giống gia cầm được tạo bởi sắc tố khác là lipocrom.
Chúng làm cho lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời, xanh lá cây, mỗi cá thể có thể có một hoặc nhiều màu. Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là gia cầm bạch tạng, thường thấy ở các giống gia cầm siêu thịt, do kết quả chọn lọc định hướng của các nhà tạo giống để tạo ra sản phẩm gà broiler có da sạch phù hợp thị hiếu người dùng. Màu sắc, độ bóng mượt của lông liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe, sức sản xuất của gia cầm. Khi gà khỏe mạnh, khẩu phần cân đối.
thì bộ lông đẹp; ngược lại, dinh dưỡng kém, gia cầm ốm thì bộ lông xơ xác, dễ gãy rụng. - Mào Mào (mòng, tích) của gia cầm là do gấp nếp của da tạo thành, tại đây tập trung nhiều mạch quản, dây thần kinh và các hốc máu làm cho chúng luôn có màu đỏ tươi. Có thể ăn cứ vào màu sắc, trạng thái và sự phát triển của mào mà đánh giá tình trạng sức khỏe, sự phát dục và sức sản xuất của gia cầm. Khi gia 5 cầm khỏe mạnh, nhất là khi thành thục sinh dục, mào và tích có màu đỏ rực rỡ.
Khi gia cầm đẻ nhiều thì mào và tích trở nên nhợt nhạt, trong trường hợp gia cầm bị ốm thì mào tích trở nên tím tái, đó là dấu hiệu đầu tiên đánh giá sức khỏe của gia cầm ốm. Mào gà có 4 loại: mào đơn (mào cờ) thường có ở gà Ri, gà Mía; mào hoa hồng (mào giống như hoa mào gà) ở gà Hồ, gà Đông Tảo; mào quả dâu và mào hình hạt đậu ở gà chọi. -Mỏ, móng, cựa, vẩy Mỏ là thể sừng chắc do biểu mô phát triển thành, có tác dụng để lấy thức ăn. Trong chăn nuôi, người ta thường cắt bớt mỏ để tránh không cho đàn gà bị xây xước, chấn thương khi chúng đánh nhau và đạp mái.
Móng, cựa, vẩy là các cấu trúc hóa sừng của biểu mô phát triển thành có tác dụng bải vệ cơ thể và chắc năng tự vệ, kiếm mồi. -Chân Chân của gia cầm có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón. Chân được bao phủ bởi lớp vảy sừng. Chân thường có vuốt và cựa, có vai trò đấu tranh sinh tồn và cạnh tranh sinh sản của loài.
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GIA CẦM 2.Đặc điểm sinh trưởng của gia cầm Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ bởi các quá trình đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài bề ngang, khối lượng của các bộ phận và cơ thể vật nuôi trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước (Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường 1992). Phát triển là quá trình thay đổi về chất lượng tức là tăng thêm, hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của bộ phận cơ thể vật nuôi. Sinh trưởng luôn gắn liền với sự phát triển, ảnh hưởng hỗ trợ lẫn nhau và diễn ra trên cùng một cơ thể nên làm cho cơ thể ngày càng hoàn chỉnh.