Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỨC ĂN CHĂN NUÔI 1. Những vấn đề lý luận về chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi 1. Các khái niệm về chính sách, chính sách công, thực hiện chính sách và chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi Theo giáo trình bài giảng Tổng quan về chính sách công của Khoa Chính sách công - Học viện Khoa học xã hội. - Chính sách: là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định với những công cụ và giải pháp nhất định và trong một thời hạn xác định.
- Chính sách công: là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng [19, tr7]. - Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực đối với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu theo định hướng. Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống nhất là với hoạch định chính sách. Tổ chức thực hiện chính sách là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội [19, tr23].
- Các khái niệm về thức ăn chăn nuôi + Theo tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), Thức ăn chăn nuôi là: tất cả những gì gia súc ăn hoặc có thể ăn được mà có tác dụng tích cực đối với quá trình trao đổi chất. + Theo Báo cáo giải trình về danh mục thức ăn chăn nuôi theo tập quán và nguyên liệu đơn tại thông tư 02/2019/TT-BNNPTNT của Cục Chăn nuôi: “Thức ăn là sản phẩm từ động vật, thực vật, khoáng chất mà động vật có thể ăn, tiêu hóa, hấp thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm.” [15, tr1] 10 n + Tại Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản, có hiệu lực ngày 20/5/2017 có định nghĩa về thức ăn chăn nuôi như sau: “Thức ăn chăn nuôi là sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm thức ăn dinh dưỡng và thức ăn chức năng ở các dạng nguyên liệu, thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn nhằm tạo ra thức ăn tự nhiên, ổn định môi trưởng nuôi và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn”. Nghị định 39 cũng đưa ra khái niệm chi tiết về một số loại thức ăn chăn nuôi như: thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy trì sự sống và khả năng sản xuất vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc thức ăn hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật nuôi.Thức ăn truyền thống là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: thóc, gạo, cám, ngô, khoai, sắn, bã rượu, ba bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua cá và các loại khác. Thức ăn chăn nuôi thương mại là sản phẩm thức ăn chăn nuôi được sản xuất nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường.
Thức ăn chăn nuôi mới là thức ăn chăn nuôi đầu tiên được nhập khẩu, sản xuất tại Việt Nam có chứa hoạt chất mới chưa qua khảo nghiệm ở Việt Nam. Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là thức ăn dùng để cung cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi. Phụ gia thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến hoặc xử lý nhằm nâng cao hiệu quả sử 11 n dụng hoặc duy trì cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi. Chất mang là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng không ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi.
Premix kháng sinh là hỗn hợp gồm không quá 2 loại kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm mục đích kích thích sinh trưởng với tổng hàm lượng kháng sinh không lớn hơn 20%. Kinh doanh thức ăn chăn nuôi bao gồm các hoạt động sản xuất, gia công, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi. Sản xuất thức ăn chăn nuôi là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động sản xuất, chế biến, san chia, bao gói, bảo quản, vận chuyển thức ăn chăn nuôi. Gia công thức ăn chăn nuôi là quá trình thực hiện một phần hoặc toàn bộ các công đoạn sản xuất thức ăn chăn nuôi để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt hàng.
Tên thương mại của sản phẩm thức ăn chăn nuôi là tên thương phẩm của sản phẩm để phân biệt các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên thị trường. Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, thức ăn chăn nuôi là loại hàng hóa rất đặc biệt, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và tác động đến sức khỏe của con người. Vì vậy, việc quản lý thức ăn chăn nuôi đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết của bất cứ quốc gia nào, đặc biệt với Việt Nam, quốc gia mà ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng là một trong những ngành có vai trò trủ lực trong nền kinh tế. - Các hoạt động liên quan đến quản lý thức ăn chăn nuôi bao gồm: ban hành tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thức ăn chăn nuôi, công tác khảo nghiệm, công nhận thức ăn chăn nuôi, thu thập và xử lý thông tin tư liệu về thức ăn chăn nuôi, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, nhập khẩu, sản xuất, gia công, phân phối, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thanh kiểm tra việc chấp hành quy định của nhà nước về thức ăn chăn nuôi.
Vì vậy, Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là quan điểm, quyết sách, quyết định chính trị của nhà nước nhằm mục tiêu, giải pháp, công cụ để 12 n quản lý lĩnh vực thức ăn chăn nuôi trong điều kiện chăn nuôi Việt Nam ở mỗi giai đoạn cụ thể. Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước lĩnh vực chăn nuôi, các nhà quản lý căn cứ vào tình hình sản xuất, kinh doanh, sử dụng thức ăn chăn nuôi của quốc gia và các nước trong khu vực để xây dựng chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam. Chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là chính sách công. Chủ thể ban hành chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là cơ quan quản lý nhà nước cụ thể là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đối tượng chính sách bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về chăn nuôi, các đơn vị sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi và người chăn nuôi trọng phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là một khâu tổng hợp của chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, đối với đối tượng chính sách nhằm đạt mục tiêu theo định hướng. Chính vì thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi là một khâu hợp thành của chu trình chính sách nên nếu không thực hiện công đoạn này thì chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi sẽ không áp dụng vào thực tế cũng như tồn tại và phát triển được. So với các chu trình chính sách, thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng là bước hiện thực hóa ý trí của chủ thể ban hành chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam vào đời sống xã hội. Thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam là một hệ thống nhất với hoạch định, xây dựng và đánh giá chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.
Nội dung của thực hiện chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi được cụ thể hóa theo điều 4 nghị định 39 là: Định hướng phát triển sản xuất và sử dụng thức ăn chăn nuôi; Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản 13 n lý, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển thức ăn chăn nuôi; Quản lý khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi mới; Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về thức ăn chăn nuôi; Tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi. Đầu tư phát triển hệ thống khảo nghiệm, kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi; Đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi; Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm về sản xuất, quản lý và sử dụng thức ăn chăn nuôi; Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định của Nhà nước về thức ăn chăn nuôi; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi. Tác động của chính sách quản lý thức ăn chăn nuôi đối với ngành chăn nuôi Trước thực trạng đàn gia súc, gia cầm ngày càng phát triển, giá nguyên liệu TACN trên thế giới ổn định ở mức thấp, những năm qua tình hình nhập khẩu nguyên liệu TACN vào Việt Nam tăng mạnh. Cùng với đó là sản lượng TACN của các nhà máy sản xuất TACN trong nước tiếp tục tăng.
Cụ thể theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi trong gần 10 năm trở lại đây từ năm 2010 đến nay sản lượng thức ăn công nghiệp liên tục tăng với tốc độ 7,8%/năm.