Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá sinh trưởng của một số loài cây Họ đậu (Fabaceae) trồng tại mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên" do sinh viên Trần Ngọc Đăng thực hiện năm 2018 (chuyên ngành Sinh thái và Bảo tồn Đa dạng sinh học, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ Ngọc Sơn).
Vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được lập kế hoạch và xây dựng trong giai đoạn từ tháng 03/2017 đến tháng 03/2018. Sau khi nghiệm thu, mô hình phục vụ hai mục đích chính: bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các loài cây bản địa đang ở mức độ nguy cấp cao, đồng thời tạo không gian thực hành, học tập và nghiên cứu cho sinh viên Khoa Lâm nghiệp. Kết thúc giai đoạn đầu, mô hình đã gây trồng thành công 406 cây thuộc 25 loài cây bản địa khác nhau, đại diện cho các họ thực vật rừng tiêu biểu như Họ Thông tre (Podocarpaceae), Họ Mộc lan (Magnoliaceae), Họ Đậu (Fabaceae), Họ Xoan (Meliaceae), Họ Long não (Lauraceae) và Họ Dầu / Quả hai cánh (Dipterocarpaceae).
Trong số các họ thực vật có mặt tại mô hình, Họ Đậu (Fabaceae) được xác định là nhóm có số lượng loài nguy cấp nhiều nhất. Về mặt sinh học và sinh thái, các loài cây họ Đậu có quan hệ cộng sinh mật thiết với vi khuẩn nốt rễ (Rhizobium). Loại vi khuẩn này có khả năng đồng hóa khí nitơ tự do ($N_2$) trong không khí thành dạng đạm hữu dụng ($NO_3^-$ hoặc $NH_4^+$) cung cấp dinh dưỡng cho cây, đồng thời làm giàu lượng đạm cho các loài cây xung quanh và cải tạo đất rừng. Về mặt kinh tế, các loài thân gỗ thuộc họ Đậu đều là cây gỗ quý, cho vân thớ đẹp, thường bị khai thác kiệt quệ ngoài tự nhiên để làm đồ mỹ nghệ và đồ gỗ gia dụng cao cấp, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cao. Do đó, việc theo dõi, đánh giá sinh trưởng giai đoạn đầu của các loài cây họ Đậu trồng chuyển vị (ex-situ) là cơ sở khoa học để quản lý, chăm sóc và định hướng nhân rộng mô hình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của 6 loài cây Họ đậu (Fabaceae) trồng trong mô hình Vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Đề xuất được một số biện pháp nhằm phát triển cây bản địa trong mô hình vườn thực vật tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 6 loài cây gỗ bản địa thuộc họ Đậu (Fabaceae) gồm Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis), Lim xanh (Erythrophleum fordii), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Vàng anh (Saraca dives), Cẩm lai (Dalbergia oliveri) và Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus).
- Phạm vi không gian: Khuôn viên mô hình thực nghiệm của Khoa Lâm nghiệp thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên). Diện tích phân khu nghiên cứu chiếm 0,26 ha trên tổng diện tích 0,8 ha của toàn mô hình.
- Phạm vi thời gian: Điều tra thực địa thu thập số liệu qua 3 đợt định kỳ cách nhau 2 tháng trong năm 2018: Đợt 1 (15/01/2018), Đợt 2 (15/03/2018) và Đợt 3 (15/05/2018).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận lâm sinh, sinh trưởng cây rừng là sự biến đổi kích thước, thể tích và khối lượng sinh học theo thời gian thông qua quá trình đồng hóa. Sinh trưởng là kết quả tổng hợp giữa tiềm năng di truyền nội tại của loài và các nhân tố ngoại cảnh (tiểu khí hậu, tính chất đất đai, độ ẩm, thảm thực vật che chở và tương tác giữa các loài trong quần xã). Cây trồng bản địa trong mô hình chịu sự chi phối mạnh mẽ của tiểu hoàn cảnh do các loài cây xung quanh tạo nên cũng như các tác động kỹ thuật lâm sinh. Do đó, việc nghiên cứu sinh trưởng cây bản địa đòi hỏi phải gắn liền với hiện trạng thảm thực vật và các nhân tố sinh thái tại lập địa gò đồi Thái Nguyên.
Khu vực nghiên cứu có đặc điểm địa hình đồi dốc tụ; đất đai gồm đất feralit phát triển trên sa thạch pha cát lẫn đá nhỏ, nghèo mùn, có màu xám đen, độ pH thấp và hàm lượng dinh dưỡng nghèo kiệt do đã qua khai thác nhiều năm; khí hậu nhiệt đới gió mùa chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10) và mùa khô (tháng 11 đến tháng 3 năm sau).
Phương pháp xây dựng vườn thực vật và chăm sóc kỹ thuật lâm sinh:
- Kỹ thuật trồng: Phát dọn thực bì, cỏ dại và gạch đá; đào hố quy cách $40 \times 40 \times 40\text{ cm}$; rạch bỏ vỏ bầu nilon; bón lót mỗi hố từ 2 đến 3 kg phân vi sinh Sông Gianh; đặt cây ngay ngắn giữa hố sao cho mặt bầu thấp hơn miệng hố 2 - 4 cm; lấp đất nhỏ nén chặt 2/3 chiều cao bầu rễ, lấp đất kín cổ rễ 1 - 2 cm và vun gốc hình mâm xôi.
- Vật liệu giống và mật độ: Sử dụng cây giống con được ươm nuôi từ các vườn ươm tại Bắc Kạn, Quảng Bình, Nghệ An, Cao Bằng và Trường Đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai, Hà Nội). Cây con bảo đảm đầy đủ rễ, thân, lá; chiều cao cây con ban đầu dao động từ 15 đến 60 cm. Cây được trồng theo hàng đơn loài dọc mô hình, cự ly hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m ($3 \times 2\text{ m}$); mật độ chung là 406 cây trên diện tích 0,26 ha.
- Chế độ chăm sóc: Khắc phục điều kiện xa nguồn nước và thời tiết khô nóng đỉnh điểm bằng cách đào hố lót bạt nhựa trữ nước, dẫn dây bơm để tích nước tưới trực tiếp. Trong tháng đầu tiên, định kỳ tưới nước 1 lần/ngày vào lúc 16h00. Định kỳ làm cỏ 1 tháng/lần bằng máy cắt cỏ ngoài phạm vi 1 m quanh gốc, kết hợp cuốc xới cỏ dại và vun xới quanh gốc.
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
- Gắn thẻ mã số cố định cho từng cá thể cây và cắm biển nhận diện cho từng hàng cây trong mô hình.
- Đo đường kính sát gốc ($D_{00}$) bằng thước kẹp cơ khí theo 2 hướng trực giao Đông – Tây và Nam – Bắc, lấy giá trị trung bình cộng.
- Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước dây từ vạch mốc đánh dấu sơn/bút xóa trắng cố định tại gốc cây lên đến đỉnh sinh trưởng của chồi ngọn.
- Theo dõi định kỳ động thái ra lá mới và sự biến đổi chồi.
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2013 để tính toán tỷ lệ sống ($C%$), chiều cao vút ngọn trung bình ($\bar{H}{vn}$), đường kính sát gốc trung bình ($\bar{D}{00}$) và hệ số biến động ($S%$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc bảo tồn chuyển vị các loài cây gỗ bản địa có giá trị bảo tồn cao trước nguy cơ cạn kiệt nguồn gen tự nhiên; làm rõ vai trò sinh thái của các loài cây họ Đậu nhờ khả năng cố định đạm cải tạo đất và giá trị kinh tế của gỗ nhóm quý; công bố 2 mục tiêu nghiên cứu và khẳng định ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu lâm sinh cho công tác quản lý vườn thực vật tại trường đại học.
Phần II: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng thuật lịch sử phát triển mạng lưới vườn thực vật trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời tổng hợp các công trình gây trồng cây bản địa:
- Quốc tế: Khái quát sự hình thành của khoảng 1.800 vườn thực vật trên 150 quốc gia, tiêu biểu như Vườn bách thảo Arboretum von Trsteno (Dubrovnik, 1492), các vườn thực vật cổ tại Ý (Pisa 1544, Padua 1545, Firenze, Bologna), Vườn Jardim Botânico (Brazil, 1808), Vườn Kirstenbosch (Nam Phi, 1913), Vườn thực vật Hoàng gia Kew (Anh, 1840), Vườn Berlin-Dahlem (Đức, 1910) và hệ thống vườn tại Trung Quốc (Bắc Kinh, Nam Trung Quốc, Xishuangbanna, Vũ Hán), Ấn Độ, Singapore, Malaysia, Thái Lan. Tổng quan các kỹ thuật trồng rừng hỗn loại bằng cây bản địa theo băng tại Malaysia (1999) và các nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tán lá của Julians Evan (1982), Hunt (1969), Vanlaar (1976).
- Việt Nam: Điểm luận các mô hình vườn thực vật lâu đời như Thảo Cầm Viên Sài Gòn (1864), Vườn Bách Thảo Hà Nội (1890), Vườn thực vật Cúc Phương (90 ha, 535 loài), Vườn thực vật Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam (Thanh Trì, Hà Nội, 3 ha, hơn 200 loài), các vườn thực vật tại Phong Nha - Kẻ Bàng và Tà Bhinh. Tổng hợp các nghiên cứu gây trồng thực nghiệm cây bản địa tiêu biểu của Phạm Văn Bốn (2009) về Lim xanh tại Bình Phước; Lưu Phạm Hoành và Lê Cảnh Nhuệ (1960); Thẩm Đức Thuận (2017) về Lim xanh, Lim xẹt, Re hương tại Hòa Bình; Triệu Văn Hùng (1993); Phùng Ngọc Lan (1994); Phạm Xuân Hoàn (2002); Vi Hồng Khanh (2003); cùng các kết quả đề xuất tập đoàn cây bản địa từ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Dự án STRAP - JICA.
- Phân tích chi tiết đặc điểm hình thái, sinh thái học, phân bố địa lý và giá trị kinh tế - dược liệu của 6 loài cây họ Đậu được chọn khảo sát (Sưa đỏ, Lim xanh, Lim xẹt, Vàng anh, Cẩm lai, Giáng hương).
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu (khí hậu 4 mùa, lượng mưa, nền đất feralit trên sa thạch nghèo mùn); đối tượng gồm 6 loài cây họ Đậu trồng trong mô hình 0,26 ha; trình bày nguyên lý phương pháp luận đánh giá sinh trưởng gắn với tiểu hoàn cảnh; quy chuẩn các bước đào hố, bón lót phân vi sinh Sông Gianh, mật độ trồng $3 \times 2\text{ m}$; phương pháp tưới nước bằng bể bạt tạm thời và định kỳ làm cỏ 1 tháng/lần; các công thức toán học đo đếm $D_{00}$, $H_{vn}$, tỷ lệ sống và phân tích thống kê trên Microsoft Excel 2013 qua 3 đợt đo thực địa.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả tập trung phân tích 4 nội dung thực nghiệm chính:
- Phân lô cây trồng trong mô hình: Toàn bộ 406 cây thuộc 25 loài được quy hoạch thành các hàng đơn loài song song, cự ly hàng 3 m, cự ly cây 2 m. Sơ đồ bố trí thực địa ghi nhận cụ thể số lượng của từng loài (ví dụ: Long não 16 cây, Sau sau 14 cây, Lim xanh 13 cây, Lim xẹt 19 cây, Vàng anh 14 cây, Sưa đỏ 14 cây, Cẩm lai 19 cây, Giáng hương 19 cây, Trai lý 20 cây...). Cách bố trí này tạo thuận lợi cho việc theo dõi sinh trưởng, chăm sóc kỹ thuật và giảng dạy thực địa.
- Đánh giá tỷ lệ sống: Cả 6 loài cây bản địa họ Đậu đều đạt tỷ lệ sống tuyệt đối 100% tại đợt kiểm tra cuối cùng, không có cá thể nào bị chết sau giai đoạn thích ứng ban đầu.
- Sinh trưởng đường kính và chiều cao: Ghi nhận sự biến thiên kích thước qua 3 đợt đo. Giáng hương đạt mức tăng trưởng đường kính lớn nhất; Lim xanh đạt mức tăng trưởng chiều cao lớn nhất; Cẩm lai và Vàng anh có mức tăng trưởng chậm hơn.
- Động thái ra lá và đề xuất giải pháp: Cây liên tục phân cành, đâm chồi và ra lá non mới; đề xuất giải pháp trải nilon trắng quanh gốc và dựng hàng rào ngăn ngừa ngoại cảnh xâm hại.
Phần V: Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ chỉ số sinh trưởng đạt được của 6 loài; khẳng định khả năng thích nghi của tập đoàn cây họ Đậu tại vườn thực vật; nêu các tồn tại về thời gian khảo nghiệm còn ngắn và hạn chế hạ tầng nước tưới; kiến nghị tiếp tục duy trì công tác đo đạc lâu dài và đầu tư hàng rào bảo vệ.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của 6 loài cây bản địa họ Đậu qua 3 đợt điều tra thực địa (15/01/2018, 15/03/2018 và 15/05/2018).
Bảng tổng hợp tỷ lệ sống và sinh trưởng đường kính sát gốc ($D_{00}$):
| STT |
Tên loài cây |
Số cây sống (cây) |
Tỷ lệ sống (%) |
$D_{00}$ Lần 1 (cm) |
$D_{00}$ Lần 2 (cm) |
$D_{00}$ Lần 3 (cm) |
Tăng trưởng $D_{00}$ (cm) |
Hệ số biến động $S%$ Lần 3 |
| 1 |
Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis) |
13/13 |
100 |
0,250 |
0,316 |
0,401 |
0,151 |
0,030 |
| 2 |
Lim xanh (Erythrophleum fordii) |
13/13 |
100 |
0,923 |
1,045 |
1,228 |
0,305 |
0,063 |
| 3 |
Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum) |
19/19 |
100 |
1,405 |
1,544 |
1,665 |
0,259 |
0,081 |
| 4 |
Vàng anh (Saraca dives) |
14/14 |
100 |
0,354 |
0,398 |
0,456 |
0,103 |
0,030 |
| 5 |
Cẩm lai (Dalbergia oliveri) |
19/19 |
100 |
0,606 |
0,659 |
0,648 |
0,043 |
0,053 |
| 6 |
Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) |
19/19 |
100 |
0,995 |
1,213 |
1,489 |
0,495 |
0,085 |
Ghi chú: Giá trị đường kính sát gốc tuyệt đối của các cá thể ghi nhận qua các lần đo dao động: Giáng hương đạt 1,00 – 2,15 cm; Lim xẹt đạt 1,06 – 2,45 cm; Lim xanh đạt 1,00 – 1,90 cm; Sưa đỏ đạt 0,24 – 0,62 cm; Vàng anh đạt 0,26 – 0,67 cm; Cẩm lai đạt 0,10 – 0,99 cm.
Bảng tổng hợp sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$):
| STT |
Tên loài cây |
$H_{vn}$ Lần 1 (m) |
$H_{vn}$ Lần 2 (m) |
$H_{vn}$ Lần 3 (m) |
Tăng trưởng $H_{vn}$ (m) |
Hệ số biến động $S%$ Lần 3 |
| 1 |
Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis) |
0,239 |
0,398 |
0,554 |
0,315 |
0,015 |
| 2 |
Lim xanh (Erythrophleum fordii) |
0,659 |
0,818 |
0,995 |
0,335 |
0,026 |
| 3 |
Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum) |
0,877 |
0,992 |
1,131 |
0,254 |
0,052 |
| 4 |
Vàng anh (Saraca dives) |
0,612 |
0,668 |
0,728 |
0,115 |
0,026 |
| 5 |
Cẩm lai (Dalbergia oliveri) |
0,894 |
1,043 |
1,188 |
0,294 |
0,063 |
| 6 |
Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) |
1,015 |
1,128 |
1,267 |
0,253 |
0,062 |
Ghi chú: Phạm vi chiều cao vút ngọn tại lần đo cuối dao động: Giáng hương đạt 0,80 – 1,74 m; Lim xanh đạt 0,85 – 1,20 m; Cẩm lai đạt 0,58 – 1,50 m; Lim xẹt đạt 0,68 – 1,15 m; Sưa đỏ đạt 0,50 – 0,71 m; Vàng anh đạt 0,50 – 0,87 m.
Về động thái ra lá: Các loài đều có sự gia tăng số lượng lá mới liên tục qua các đợt kiểm tra, chứng minh bộ rễ cây con đã bắt đầu phát triển, vượt qua tầng đất mặt nghèo mùn và bắt đầu hấp thu chất dinh dưỡng từ lớp phân bón lót vi sinh.
Các giải pháp lâm sinh do tác giả đề xuất:
- Rải lớp nilon không màu trắng xung quanh gốc cây: Biện pháp này nhằm ngăn chặn hạt cỏ dại nảy mầm và phát triển xung quanh cổ rễ, hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng và nước của thảm cỏ, đồng thời giữ ẩm đất, giảm thiểu lượng nước bốc hơi qua bề mặt đất trong mùa khô nóng, giúp tiết kiệm nhân công làm cỏ và tưới nước.
- Xây dựng bổ sung hàng rào bảo vệ xung quanh vườn thực vật: Nhằm bảo vệ an toàn cho hệ thống cây giống bản địa quý hiếm trước sự xâm nhập, giẫm đạp và phá hoại của gia súc thả rông, đồng thời kiểm soát người ra vào, tạo không gian an toàn cho cây sinh trưởng ổn định lâu dài.
Đóng góp của khóa luận: Cung cấp chuỗi dẫn liệu thực nghiệm ban đầu có độ tin cậy cao về tỷ lệ sống, tốc độ gia tăng đường kính và chiều cao của 6 loài cây gỗ họ Đậu quý hiếm trồng khảo nghiệm chuyển vị tại Thái Nguyên; khẳng định tính khả thi của việc xây dựng vườn thực vật kết hợp bảo tồn nguồn gen với học tập nghiên cứu thực tế; đóng góp tư liệu lâm sinh phục vụ các nghiên cứu tiếp theo về gây trồng và phục hồi rừng bằng cây bản địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện:
- Thời gian theo dõi thực địa còn ngắn, chỉ gói gọn trong 4 tháng (từ tháng 01 đến tháng 05/2018 với 3 đợt đo đạc), do đó chỉ mới phản ánh được sinh trưởng ở giai đoạn cây con vừa bén rễ, chưa đánh giá được toàn diện chu kỳ sinh trưởng qua đầy đủ các mùa trong năm.
- Quy mô mẫu nghiên cứu cho từng loài còn nhỏ (từ 13 đến 19 cây/loài) do diện tích phân lô thử nghiệm ban đầu của mô hình bị giới hạn (0,26 ha).
- Nguồn gốc vật liệu cây giống thu gom từ nhiều vườn ươm khác nhau (Bắc Kạn, Cao Bằng, Quảng Bình, Nghệ An, Xuân Mai) nên kích thước cây con ban đầu chưa có sự đồng nhất cao về chiều cao (15 - 60 cm) và đường kính.
- Nguồn nước phục vụ tưới dưỡng cây chưa chủ động, phải phụ thuộc vào giải pháp đào hố lót bạt tạm thời để trữ nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục duy trì việc đo đạc, giám sát định kỳ các chỉ tiêu $D_{00}$, $H_{vn}$, đường kính tán và khả năng phân cành ở các giai đoạn tuổi tiếp theo (2 năm, 3 năm, 5 năm); nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính nốt sần cố định đạm của vi khuẩn Rhizobium trên từng loài cây họ Đậu tại lập địa gò đồi; mở rộng thử nghiệm kỹ thuật phủ gốc bằng màng phủ nilon hoặc phụ phẩm hữu cơ nhằm hoàn thiện quy trình lâm sinh cho các vườn thực vật giáo dục.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái và Bảo tồn Đa dạng sinh học. Nội dung tài liệu đặc biệt hữu ích cho những người đang thiết kế mô hình vườn thực vật trường học, các khu bảo tồn thực vật chuyển vị, hoặc thực hiện đề tài nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng các loài cây gỗ bản địa.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm:
- Bản tổng quan tài liệu có hệ thống về lịch sử mạng lưới vườn thực vật thế giới và các công trình nghiên cứu gây trồng cây bản địa tại Việt Nam.
- Quy trình kỹ thuật lâm sinh chi tiết từ khâu chuẩn bị đất, đào hố ($40 \times 40 \times 40\text{ cm}$), bón lót phân vi sinh Sông Gianh, phương pháp giải quyết tưới nước khô hạn bằng hố lót bạt đến chế độ chăm sóc, cắt cỏ.
- Hệ thống số liệu thực nghiệm đo đếm định lượng về tỷ lệ sống, đường kính và chiều cao của 6 loài cây gỗ họ Đậu quý hiếm (Sưa đỏ, Lim xanh, Lim xẹt, Vàng anh, Cẩm lai, Giáng hương) làm cơ sở đối chiếu sinh trưởng ban đầu.
- Bản vẽ sơ đồ quy hoạch phân lô cây trồng theo hàng ($3 \times 2\text{ m}$) trong diện tích 0,26 ha phục vụ công tác bố trí thực địa và quản lý mẫu cây nghiên cứu.
Câu hỏi thường gặp
Mô hình vườn thực vật Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên có quy mô và cơ cấu cây trồng như thế nào?
Mô hình có diện tích nghiên cứu là 0,26 ha (nằm trong khuôn viên tổng thể 0,8 ha của Khoa Lâm nghiệp), được xây dựng từ tháng 03/2017 đến tháng 03/2018. Kết thúc giai đoạn một, mô hình trồng 406 cây thuộc 25 loài cây bản địa khác nhau (thuộc các họ Podocarpaceae, Magnoliaceae, Fabaceae, Meliaceae, Lauraceae, Dipterocarpaceae), được bố trí trồng theo từng hàng đơn loài với cự ly hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m ($3 \times 2\text{ m}$).
Sáu loài cây họ Đậu được chọn khảo sát trong khóa luận gồm những loài nào và số lượng cá thể khảo sát là bao nhiêu?
Sáu loài cây bản địa họ Đậu được điều tra gồm:
- Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis): 13 cây.
- Lim xanh (Erythrophleum fordii): 13 cây.
- Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum): 19 cây.
- Vàng anh (Saraca dives): 14 cây.
- Cẩm lai (Dalbergia oliveri): 19 cây.
- Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus): 19 cây.
Tỷ lệ sống và mức tăng trưởng đường kính sát gốc ($D_{00}$) của các loài cây đạt kết quả như thế nào qua 3 đợt đo?
Sau 3 đợt điều tra thực địa, tỷ lệ sống của cả 6 loài cây họ Đậu đều đạt tuyệt đối 100%. Về đường kính sát gốc, mức tăng trưởng giữa lần đo đầu (15/01/2018) và lần đo cuối (15/05/2018) xếp theo thứ tự giảm dần như sau:
- Giáng hương: tăng 0,495 cm (từ 0,995 cm lên 1,489 cm).
- Lim xanh: tăng 0,305 cm (từ 0,923 cm lên 1,228 cm).
- Lim xẹt: tăng 0,259 cm (từ 1,405 cm lên 1,665 cm).
- Sưa đỏ: tăng 0,151 cm (từ 0,250 cm lên 0,401 cm).
- Vàng anh: tăng 0,103 cm (từ 0,354 cm lên 0,456 cm).
- Cẩm lai: tăng 0,043 cm (từ 0,606 cm lên 0,648 cm).
Về chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), loài nào đạt mức tăng trưởng cao nhất và thấp nhất?
Loài có mức tăng trưởng chiều cao vút ngọn bình quân cao nhất là Lim xanh với độ tăng 0,335 m (từ 0,659 m lên 0,995 m). Đứng thứ hai là Sưa đỏ với độ tăng 0,315 m (từ 0,239 m lên 0,554 m), tiếp đến là Cẩm lai (tăng 0,294 m), Lim xẹt (tăng 0,254 m), Giáng hương (tăng 0,253 m). Loài có mức tăng trưởng chiều cao thấp nhất là Vàng anh với độ tăng 0,115 m (từ 0,612 m lên 0,728 m).
Nhóm nghiên cứu đã xử lý khó khăn về nguồn nước tưới bằng cách nào và đề xuất giải pháp kỹ thuật gì để bảo vệ mô hình?
Do địa điểm trồng nằm xa nguồn nước và gặp đợt nắng nóng đỉnh điểm của miền Bắc, tác giả đã áp dụng phương pháp đào hố đất trải bạt nhựa để dẫn dây bơm và trữ nước tại chỗ, duy trì tưới 1 lần/ngày vào lúc 16h00 trong tháng đầu tiên. Để phát triển vườn thực vật ổn định, tác giả đề xuất 2 giải pháp kỹ thuật: rải lớp màng nilon không màu trắng quanh gốc cây để hạn chế cỏ dại và giữ ẩm đất; đồng thời xây dựng bổ sung hàng rào bảo vệ xung quanh để ngăn chặn gia súc và tác động xâm hại bên ngoài.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Ngọc Đăng đã đánh giá thực nghiệm toàn diện tỷ lệ sống và động thái sinh trưởng ban đầu của 6 loài cây gỗ bản địa họ Đậu (Fabaceae) trồng chuyển vị tại vườn thực vật Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả theo dõi qua 3 đợt điều tra năm 2018 khẳng định cả 6 loài đều có khả năng thích nghi tốt với tỷ lệ sống đạt 100%, trong đó Giáng hương đạt tốc độ tăng trưởng đường kính sát gốc cao nhất và Lim xanh dẫn đầu về tăng trưởng chiều cao vút ngọn. Công trình đã cung cấp chuỗi số liệu lâm sinh thực địa có giá trị khoa học, đồng thời đề xuất các giải pháp kỹ thuật hữu ích phục vụ quản lý, bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp và hỗ trợ công tác đào tạo thực hành lâm nghiệp.