Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây mai vàng 1.1 Nguồn gốc và phân bó Cây Mai vàng còn có tên gọi là Huỳnh Mai, có tên khoa học là Ochna integerrima, thuộc họ Lão mai (Ochnaceae). Trên thế giới có Ít nhất 50 loài mai phân bố rải rác ở các nước nhiệt đới và cân nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á và Châu Phi (Wikipedia, 2023). Mai vàng mọc hoang dai trong rừng thường có 5 cánh. Đây là loại Mai được người nông dân truyền thống trồng rất nhiều.
Đặc điểm của chúng là sống lâu năm, sinh trưởng mạnh, lại ít sâu bệnh tan công hon. Tuổi tho của các loại Mai này có thể sống được hơn một trăm năm tuổi. Những loại Mai này sống phù hợp trên đất cao ráo, màu mỡ, nhất là không bị tán lá bên trên che rợp. Những cây cô thụ thé nay mà tré hoa thì đẹp rực rỡ.
Mai vàng 5 cánh lá xanh tốt suốt năm, chỉ đến tháng cuối năm Âm lịch, tất cả lá trên cành mới trở nên vàng ta. Đó là mùa thay lá của Mai đã đến. Và đây cũng là điềm vui báo cho mọi người hay biết Mai sắp tré hoa trùng vào dip xuân về Tết đến (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005). Mai vàng 5 cánh chia làm nhiều loại như Mai sẻ, Mai trâu, Mai cánh tròn, Mai cánh dún.
Mai sẻ là giống có rất nhiều hoa, mỗi hoa có 5 cánh vàng nhạt. Tuy đoá hoa nhỏ (đường kính 2 em) nhưng mau sắc lai rất đậm đà. Đây là giống Mai được nhiều người ưa thích đo có ưu điểm là nhiều hoa. Mai trâu là giống Mai vàng 5 cánh, có ưu điểm là ra hoa với đóa lớn hơn Mai sẻ (đường kính 3,5 cm).
Hoa Mai trâu có cánh lớn, dày và có màu vàng nghệ tươi tắn hơn Mai sẻ. Tuy nhiên, Mai trâu có số lượng hoa ít, chỉ khoảng một nửa so với Mai sẻ. Giống Mai cánh tròn có đoá hoa lớn như Mai trâu, cũng có màu vàng rực rỡ, năm cánh hoa vừa to vừa tròn cạnh tạo nên nét khác lạ. Mai cánh din có hoa to, màu sắc rực rỡ nhưng cánh không tron láng và ngoai ria đún don sóng như lá rau diếp trông lạ mắt và hấp dẫn (Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005).2 Đặc điểm thực vật học Theo Thái Văn Thiện (2008), đặc điểm thực vật học của cây mai vàng gồm Rễ cây mai được trồng bằng hạt là rễ cọc rễ cọc ăn sâu tìm cách và muối khoáng cácrễ cái và rễ to ăn lan trên bề mặt đất dé hút nước và chất dinh dưỡng, rễ giúp cho cây đứng vững ngoài tự nhiên Thân mai thuộc thân gỗ tùy theo vùng sinh trưởng mà màu thân khác nhau có thể là màu nâu, màu sậm.
Thân mai thường có chiều cao 3 — 8 m. Cây có thé sống trên 100 năm Lá mai có màu xanh bóng, mép lá có răng cưa, to hay nhỏ tùy thuộc vào giống Hoa mai vàng có màu vàng là màu chủ đạo, màu trắng, mảu xanh, màu cam tùy vào giống lai,cum hoa mọc thành chùmở nách lá, cuống hoa gắn lá đài thường 5 cánh có màu xanh nhạt bóng, sé luong hoa cé thé dao động từ 5 — 12 cánh, bầu có từ 5 — 10 múi mỗi múi có một quả Cây mai là cây có hoa lâu niên trong tự nhiên nên tự rụng lá khi nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông và ra hoa vào mùa xuân khi thời tiết âm áp. Hạt có màu xanh bóng khi chín chuyển sang màu đen, xếp quanh dé hoa Cây mai là loài sinh sản hữu tinh, hạt giống hình thành do sự giao phan tự nhiên giữa các cá thé. Do đó những cây con ở thé hệ sau thường ít giữ được đặc tính của cây bố mẹ.
Đó là hiện tượng phân ly tính trạng về mặt di truyền trong tự nhiên Giống mai vàng sử dụng trong thí nghiệm là giống mai giao Binh Định, có từ 8 — 12 cánh, hoa màu vàng, cánh hoa mỏng manh, có mùi thơm nhẹ, lâu tàn. Giống cây khỏe dễ chăm sóc 1.3 Yêu cầu ngoại cảnh Theo Thái Văn Thiện (2008), yêu cầu ngoại cảnh của cây mai vàng gồm: 1.1 Ánh sáng Mai là cây ưa nắng. Thời gian chiếu sáng phù hợp cho cây mai từ 6 — 8 giờ mỗi ngày. Bình quân giờ chiếu sáng dé cây mai phát triển tốt là 2.2 Nhiệt độ Nhiệt độ dé cây mai sinh trưởng phát triển tốt nhất là 25°C — 35°C.
Nhiệt độ cao hơn cây mai dễ bị cháy lá, mau già và rụng sớm, cây phát triển chậm lại nhưng vẫn chịu được trong vòng 2 — 3 tháng. Cây mai chịu hạn tương đối tốt. Nhiệt độ dưới 10°C cây dường như không phát triển, nếu kéo dai có cây có thể chết 1.3 Âm độ Cây mai trong giai đoạn đầu cần âm độ không khí trên 70%. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, nếu khô hạn kéo dài cây sẽ không ra hoa được, lá non dễ rụng, làm giảm sức sống.
Bởi vậy, nguyên tắc trồng phải giữ âm cho gốc mai trong suốt chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây 1.4 Dat đai Trong tự nhiên cây mai không kén đất, nó có thé phát triển gần như ở nhiều vùng có tính chất đất khác nhau như đất cát, cát pha sét, đất thịt nhẹ, đất thịt, đất phù sa. Độ pH thích hợp cho mai phát triển tốt từ 5,5 — 7,0. Tuy nhiên, điều kiện đất dé cây mai phát triển mạnh phải đảm bảo thoát nước tốt, giữ được độ âm ồn định, độ pH phù hợp ở những vùng đất cao như gò đồi kết cấu đất chủ yêu là đá, sỏi, cát và có nước gần thấp cây mai thường phát triển rễ cọc sâu và có ít rễ bàng, vỏ cây thường dày. Ở những khu vực có mực nước ngầm cao đất đai giàu chất hữu cơ, rễ cây mai thường phát triển theo bề ngang, rễ cọc ít phát triển 1.5 Nước Cây mai chịu hạn tốt nhất và có thê sinh trưởng ở nhiều vùng có lượng mưa khác nhau.
Tuy nhiên ở những vùng có lượng mưa nhiều và âm độ không khí cao thường cây mai phát triển tốt hơn. Lượng mưa có thé dao động từ 1. Cay mai cần nước, lượng nước cung cấp cho cây mai cần đủ và đồi dào, tuy nhiên cây không phù hợp với điều kiện ngập tng. Lượng nước cho cây mai thường phù hợp với nguồn pH 5,5 — 7,0 cây mai không thích nghi với nước chua mặn, nhưng có khả năng chịu được nước phèn 1.6 Dinh Dưỡng Phân bón chiếm một tỷ lệ lớn trong chi phí sản xuất.
Chính vì vậy, cần bón đúng, bón đủ dé cây mai cho năng suất, chất lượng cũng như khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh. Với cây mai, thời điểm sau tết khi hoa đã tàn được vận chuyên về vườn dé thay giá thé, cắt tia chuẩn bị cho ra lộc mới, day là lúc cần tăng cường bón phân dé kích thích cho cây mai bật chồi. Đến giai đoạn cây ra nụ cần bón phân cân đối, trong đó tăng lân để kích thích phát triển nụ, nụ nhiều, duy trì tốt lượng nụ hữu hiệu để cây có giá trị thương phẩm cao và cho hoa nở nhiều vào đúng dip mong muốn. Vi vậy, cần nghiên cứu xác định loại phân thích hợp trong từng giai đoạn giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, nâng cao chất lượng hoa (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009).
Hà Thị Kim Chiến (2014), xác định chế độ bón phân thích hợp cho mai vàng Yên Tử 1 năm tuổi là: I kg phân vi sinh + 0,1 kg N + 0,3 kg P2Os + 0,2 kg K2O cho ty lệ sống cao 87,3 %, cây sinh trưởng tốt, chiều cao cây 65,8 cm, độ bền hoa 15 ngày. Đặng Văn Đông (2016) đã kết luận phân bón thích hợp cho mai vàng Yên Tử 2 năm tuôi là 1,5 kg phan vi sinh + 0,2 kg đạm uré + 0,5 kg lân + 0,3 kg kali clorua, cho cây sinh trưởng, phát triển tốt với đường kính thân 1,36 cm, chiều cao cây 74,8 cm và số lá/cành nhiều nhất 18,6 lá. Với cây mới trồng thì thang đầu nên bón DAP dé cung cấp đủ lân cho cây phát triển rễ lượng 5 g/gốc (nên pha loãng tưới gốc). Các tháng tiếp theo sử dụng NPK 30 — 10 — 10 với lượng 5 g/gốc (Công ty TNHH mai vàng tết, 2022).4 Tình hình sản xuất và nhân giống mai trên thế giới và Việt Nam 1.1 Một số giống mai phổ biến ở Việt Nam Theo Thái Văn Thiện (2008), dựa theo số cánh hoa, mai được chia thành 3 loại: - Mai vàng 5 cánh + Mai sẻ: Cánh hoa tròn, nhỏ từ 2 — 3 cm.
+ Mai trâu: Hoa lớn 4 - 5 cm và hở, cánh dai, hay bi co cánh. + Mai thơm (mai Huế, mai Ngự): Có mùi thơm dịu khi nở, hoa 4.5 em, nở thưa. - Mai tứ quý: Loài mai đặc trưng của vùng Nam bộ. Năm cánh hoa màu đỏ tròn trịa và giống hình một đóa hoa mai.
Mai trổ bông lac đác quanh năm.1 Mai Vang 5 cánh - Mai vàng nhiều cánh (6 cánh trở lên) + Mai Huỳnh Tỷ: 24 cánh xếp thành 3 tầng, cánh dày, khít đều, cánh tròn phẳng mịn, kích thước 3 cm, hoa dé rụng. + Mai 24 cánh Thủ Đức: Cây siêng hoa và ít rụng nụ, cánh xếp 3 tầng, kích thước 2 - 3 cm, cánh loăn xoăn không phẳng, nhị có màu nâu sậm. + Mai cúc: Từ 24 — 120 cánh, cánh hoa xếp nhiều tầng, ít hoa do cây bị rụng nụ. + Mai giảo Thủ Đức (mai tai giảo) Theo Thái Văn Thiện (2008), giống mai này xuất hiện trong quá trình lai tạo hoặc chọn lọc tự nhiên, hoa từ 8 — 12 cánh, xếp thành 2 tang xen kẽ nhau, cánh phẳng tròn, kích thước hoa lớn 4 — 6 em, có mùi thơm nhẹ.
Hoa nở bén lâu tàn, có thé từ 2 — 3 ngày, hoa màu vàng chanh, tươi tắn rực rỡ. Đây là giống hoa được ưa chuộng và nhân giống nhiều nhất. Cây có khả năng sinh trưởng khỏe, ôn định, chống chịu với sâu bệnh tốt. Canh có mau xám nâu, phân nhánh mạnh.
Lá có màu xanh, lá đơn, mọc cách. Hoa màu vàng rực, có hương thơm nhẹ và thường trổ 15 ngày sau rụng lá. Mật độ hoa dày. Cánh hoa hình 6 van, dai 1,3 — 2 em, chiều rộng 1 — 1,4 em.
Hoa có nhiều nhị, số lượng thay đổi, có chiều cao từ 0,9 — 1,2 em. Nhuy thường cao hơn nhị, trung bình | - 1,4 cm. Đài hoa màu xanh, kích thước lá đài 10 — 12 mm x 6 —7 mm. Quả có nhiều hạt nhỏ, không cuống, xếp quanh dé hoa.
Trong đề tài, giống mai giảo Thủ Đức được chon làm thí nghiệm bởi hầu hết các hộ trồng mai ở Làng mai Bình Lợi đều trong giống này.