Đặt vấn đề Việt Nam là đất nước nông nghiệp, từ ngàn đời nay song hành cùng sự phát triển của nền nông nghiệp lúa nước thì chăn nuôi đã và đang là ngành nghề trọng yếu của đất nước. Nằm trong nhóm nước có ngành chăn nuôi lợn lớn nhất thế giới nhưng Việt Nam lại không thuộc nhóm quốc gia xuất khẩu thịt hàng đầu do chăn nuôi lợn tại Việt Nam vẫn duy trì tình trạng nhỏ lẻ kéo dài với hơn 2,5 triệu nông hộ [30]. Chính vì vậy, ngành chăn nuôi nước ta đang dần chuyển giao cơ cấu từ hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, quy mô công nghiệp với trang thiết bị đồng bộ, hiện đại hóa, quy trình chăn nuôi được giám sát chặt chẽ, hạn chế dịch bệnh,. không những hạ giá thành sản phẩm mà còn giúp nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Năm 2021 là một năm đầy biến động đối với ngành chăn nuôi nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Tình hình dịch COVID diễn biến phức tạp, số ca mắc liên tục tăng cao, các quốc gia đóng cửa hạn chế thông thương làm đứt gãy chuỗi logistic toàn cầu gây ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu, tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi. Dịch bệnh trên động vật diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ nông sản giảm và chịu tác động từ chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế lớn, các nước gia tăng hàng rào kỹ thuật. Giá nguyên liệu tăng, trong khi nhu cầu giảm vì dịch Covid-19 và tình hình dịch tả lợn châu Phi vẫn khó lường.
Số liệu từ Cục Thú y (Bộ NN&PTNT) cho thấy, tính đến ngày 28/11/2021 có 901 xã của 43 tỉnh, thành phố có bệnh dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 21 ngày.000 con lợn bị buộc phải tiêu hủy với trọng lượng lợn tiêu hủy khoảng trên 10.000 tấn, tăng 1 hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2020. Đây là một trong những thách thức lớn với các doanh nghiệp ngành chăn nuôi. Với mục đích góp phần bản thân vào sự phát triển của ngành chăn nuôi cũng như được nâng cao kỹ thuật xử lý trong công việc,có cơ hội cọ xát với thực tế, gắn kết với kiến thức đã học vào môi trường nghiên cứu và sản xuất chăn nuôi, được sự sắp xếp của thầy cô trong Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá khả năng sinh sản và tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Công ty Cp Thiên Thuận Tường, Tp Cẩm Phả, Quảng Ninh” 1. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục đích - Nắm được tình hình sản xuất chăn nuôi lợn tại trang trại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường, TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. - Đánh giá được khả năng sinh sản của đàn lợn nái tại trại - Thực hiện các thao tác chăn nuôi cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại. - Biết chẩn đoán, phòng bệnh và điều trị các bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao kỹ năng chuyên môn và kỹ năng sống.
- Có thêm nhiều kinh nghiệm thực tế trong chăn nuôi trang trại lợn theo hướng công nghiệp. Yêu cầu của chuyên đề - Tham khảo và điều tra tình hình sản xuất chăn nuôi tại trang trại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường, TP Cẩm Phả, Quảng Ninh. - Áp dụng được các phương pháp, kỹ thuật cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ đạt năng suất tốt chất lượng cao. 2 - Xác định tình hình mắc bệnh và có biện pháp phòng trị thích hợp trên đàn nái sinh sản và lợn con theo mẹ.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái * Sự thành thục về tính Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [14], khi gia súc đã sinh trưởng phát triển đến giai đoạn nhất định, chúng sẽ có những biểu hiện về tính dục, gia súc đực có khả năng sinh ra tinh trùng còn gia súc cái đã có khả năng sinh ra tế bào trứng. Khi đó gia súc sẽ được coi là đã thành thục về tính.
Các giai đoạn của sự thành thục về tính như sau: - Giai đoạn gia súc mới sinh Ở giai đoạn này mới chỉ có những biến đổi bên trong liên quan đến cải thiện trao đổi chất, hình thành các hormone giải phóng gonadotropin (GnRH) ở vùng dưới đồi, khiến một hàm lượng nhỏ FSH (Follicle-stimulating hormone) của tuyến yên được hình thành và tiết ra. Thông qua cơ chế điều hòa ngược vòng ngắn dương tính, FSH kích thích vùng dưới đồi tăng tiết GnRH. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho các giai đoạn sau. - Giai đoạn tiền thành thục sớm Cũng như giai đoạn trước, giai đoạn này chỉ có những biến đổi bên trong của hệ nội tiết liên quan tới cải thiện trao đổi chất với các yếu tố ở vùng dưới đồi.
Người ta cho rằng cấu trúc tiếp nhận estrongen vùng dưới đồi đã bắt đầu hoạt động, lúc này bắt đầu hình thành cơ chế điều hòa ngược vòng dài âm tính của estrogen lên vùng dưới đồi, ức chế việc tiết các yếu tố giải phóng GnRH. Đối với giai đoạn này cùng tồn tại hai vòng điều hòa nhưng vòng điều hòa ngược dài âm tính của estrogen chiếm ưu thế hơn vòng ngược ngắn dương tính của FSH. 4 - Giai đoạn tiền thành thục Người ta cho rằng vòng điều hòa ngược âm tính của estrogen có sự thay đổi, không còn chiếm ưu thế như trước nữa, kết quả là các kích tố hướng sinh dục và các hormone sinh dục được tiết nhiều khởi đầu giai đoạn chuẩn bị tích cực của quá trình thành thục về tính. Giai đoạn này còn hình thành vòng điều hòa ngược dương tính của estrogen.
- Giai đoạn tiền thành thục muộn Đến giai đoạn này sự phát triển cơ thể đạt tới sự chín muồi sinh dục, con vật thành thục về tính. Do kết quả phát huy tác động của vòng điều hòa ngược dương tính của estrogen từ giai đoạn trước, hàm lượng estrogen tăng cao đủ ngưỡng kích thích thuỳ trước tuyến yên giải phóng FSH và LH gây trứng chín và rụng. - Giai đoạn rụng trứng Nét đặc trưng của giai đoạn này là xuất hiện sóng rụng trắng LH, nói một cách khác vòng điều hòa ngược dương tính của estrogen phát huy cao nhất khả năng tác dụng để phóng thích ồ ạt LH gây rụng trứng. Thời gian thành thục nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể chia các yếu tố đó hai nhóm: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài - Yếu tố bên trong: Yếu tố di truyền (giống): Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học trong tự nhiên, tuy nhiên mỗi giống lợn sẽ có quá trình sinh trưởng khác nhau.
Theo Nguyễn Hữu Cường và cs (2015) [3] cho biết, tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào yếu tố di truyền. Thông thường các giống lợn có khối lượng lớn thì tuổi thành thục về tính sẽ chậm hơn so với các giống lợn có khối lượng nhỏ hơn. Thời gian thành thục 6 - 7 tháng tuổi, nói chung ít có sự thay đổi giữa các giống đã được chọn lọc, cải tiến lớn về di 5 truyền. Nhưng ở các giống lợn nội của ta như lợn ỉ, Lang Hồng, Móng Cái … có tuổi thành thục tính dục sớm hơn từ 4 - 5 tháng.
Tính biệt: sự thành thục về tính ở lợn đực và lợn cái trong cùng 1 giống có sự khác nhau. Lợn Ỉ lợn đực thành thục (20 ngày tuổi) sớm hơn lợn cái (3 - 4 tháng tuổi). - Yếu tố bên ngoài: Dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi hậu bị ảnh hưởng lên tuổi thành thục và khả năng sinh sản sau này của lợn nái (Tummaruk và cs, 2000) [27]. Theo Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan (1998) [1], trong thực tiễn thành thục tính dục có liên quan chặt chế với thể trọng hơn là tuổi tác.
Gia súc được cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng sẽ thành thục sớm hơn gia súc được nuôi dưỡng với khẩu phần ăn hàm lượng dinh dưỡng thấp. Theo Hartog và Kempen (1980) [21], sự giảm bớt lượng thức ăn ăn vào trong suốt giai đoạn nuôi dưỡng lợn cái hậu bị làm kéo dài tuổi thành thục và giảm trọng lượng cơ thể lúc thành thục. Hạn chế 50% mức lysin trong khẩu phần ăn đối với lợn hậu bị đang tăng trưởng gây chậm động dục. Việc hạn chế mức protein trong khẩu phần ăn của lợn hậu bị giai đoạn tiền thành thục nhằm tăng cường dự trữ mỡ cho cơ thể tuy nhiên lại khiến thời gian thành thục bị kéo dài và giảm số noãn xuất.
Mật độ nuôi: Trong chăn nuôi môi trường nuôi nhốt nếu mật độ nuôi nhốt đông trong suốt thời gian sinh trưởng phát triển của con vật sẽ làm chậm tuổi động dục. Theo kết quả nghiên cứu của Hughes và James (1996) [22] cho thấy, nếu nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng con sẽ làm chậm sự thành thục tính so với lợn được nuôi theo nhóm do khi nuôi nhốt chung với nhau chúng được thể hiện tập tính tự nhiên sống theo bầy đàn giúp giảm stress cũng như kích thích sự 6 thành thục sớm hơn, vậy nên cần nuôi hậu bị theo nhóm tránh nuôi lợn hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Nếu nuôi nhốt lợn nái hậu bị liên tục thì tuổi động dục lần đầu sẽ dài hơn so với lợn nuôi có thời gian chăn thả. Nguyên nhân do khi lợn được nuôi chăn thả được thể hiện tập tính tự nhiên của chúng, giảm stress, giúp tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn.
Nếu lợn cái được tiếp xúc với lợn đực trong giai đoạn 165-190 ngày tuổi sẽ làm giảm thời gian thành thục. Theo nghiên cứu của McIntosh (1996) [25], khi cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, trong 15 - 20 phút, thì kết quả là 83% lợn cái (trên 90kg) đã động dục lúc 165 ngày tuổi sớm hơn 1 - 2 tháng so với thông thường. + Sự ảnh hưởng của mùa vụ: Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy gia súc ở vùng thuộc khí hậu nhiệt đới, sự thành thành thường sớm hơn so với những gia súc cùng loài ở vùng khí hậu ôn đới.
Mùa xuân thường là mùa sinh sản, mùa thu – đông lợn nái hậu bị thường thành thục sớm hơn so với mùa hè.