Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây ăn quả có múi, đặc biệt là cây bưởi (Citrus grandis (L.), thuộc họ Rutaceae), giữ vị trí chiến lược trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp tại Việt Nam nhờ giá trị kinh tế cao và khả năng bảo quản tự nhiên lâu dài sau thu hoạch. Về mặt dinh dưỡng, trong 100g phần ăn được của quả bưởi chứa 8–10 mg đường, 7,3 mg gluxit, 0,02 mg caroten cùng nhiều loại vitamin và khoáng chất thiết yếu. Trên cả nước đã hình thành nhiều vùng chuyên canh bưởi đặc sản gắn liền với chỉ dẫn địa lý như bưởi Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Da Xanh (Bến Tre), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ) và bưởi Diễn (Hà Nội).
Trang trại Bùi Huy Hạnh đặt tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương có quy mô tổng thể 5 ha; trong đó 2 ha dành cho khu vực chăn nuôi tập trung và 3 ha dành cho không gian cây xanh, ao hồ và vườn cây ăn quả (diện tích sản xuất cây ăn quả thực tế là 2,4 ha). Mặc dù địa phương có điều kiện đất phù sa hạ lưu sông Thái Bình màu mỡ, nguồn nước dồi dào và mạng lưới giao thông đường bộ thuận lợi, hoạt động sản xuất bưởi tại trang trại vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế:
- Tập quán canh tác mang tính thủ công, phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm truyền miệng, thiếu cập nhật quy trình khoa học kỹ thuật.
- Sử dụng phân chuồng tươi chưa qua ủ hoai mục để bón trực tiếp cho cây, dẫn đến nguy cơ ngộ độc hữu cơ và phát sinh nguồn bệnh từ đất.
- Cây bưởi bước sang năm tuổi thứ 3 nhưng chưa được đốn tỉa cành hợp lý, cành tăm phát triển rậm rạp làm tán cây phân bố không đều, ánh sáng kém thấu quang.
- Cỏ dại xâm lấn cạnh tranh dinh dưỡng gay gắt với cây trồng chính.
- Tình hình sâu bệnh hại phát sinh phức tạp (sâu vẽ bùa, sâu đục thân, nhện đỏ, bệnh vàng lá thối rễ) nhưng các biện pháp phòng trừ chỉ diễn ra tự phát, thiếu đồng bộ và không tuân thủ nồng độ, thời gian cách ly của thuốc bảo vệ thực vật.
- Đầu tư mở rộng dàn trải, thiếu liên kết bền vững trong khâu bao tiêu sản phẩm nông sản.
Trước thực trạng đó, tác giả Hoàng Quốc Huy (sinh viên chuyên ngành Trồng trọt, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã tiến hành đề tài nhằm giải quyết các tồn tại kỹ thuật tại cơ sở.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm:
- Đánh giá hiện trạng sản xuất và ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất bưởi Diễn tại trang trại Bùi Huy Hạnh, đồng thời xác định thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển sản xuất.
- Xác định bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả của việc sinh viên đi thực tập tốt nghiệp tại các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), trọng tâm là kỹ thuật canh tác, chăm sóc và quản lý dịch hại trên giống bưởi Diễn.
- Phạm vi không gian: Trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian: Thời gian thực địa từ ngày 21/06/2018 đến ngày 21/11/2018 (chu kỳ thực tập 5 tháng); các chuỗi số liệu thống kê hiện trạng sản xuất được thu thập trong giai đoạn 2016–2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và mô hình tham chiếu
- Tình hình sản xuất bưởi toàn cầu: Dữ liệu FAOSTAT (2017, 2019) cho thấy diện tích trồng bưởi toàn cầu năm 2017 đạt 358.155 ha, năng suất trung bình 17,625 tấn/ha, sản lượng đạt trên 9,9 triệu tấn. Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu về quy mô với diện tích 95.873 ha và sản lượng trên 4,4 triệu tấn (chiếm hơn nửa sản lượng toàn cầu); Israel đạt năng suất cao nhất thế giới (976,28 tạ/ha); Hoa Kỳ đứng thứ hai thế giới về sản lượng đạt 633.210 tấn (chủ yếu là bưởi chùm).
- Tình hình sản xuất bưởi tại Việt Nam: Năm 2017, diện tích trồng bưởi cả nước đạt 46.832 ha (đứng thứ 2 thế giới), sản lượng đạt 568.832 tấn (đứng thứ 3 thế giới), năng suất trung bình đạt 121,466 tạ/ha. Ba vùng trồng cây có múi trọng điểm gồm: Đồng bằng sông Cửu Long (năm 1999 đạt 41.267 ha cây có múi, năng suất bưởi 7,4 tấn/ha), Bắc Trung Bộ (7.743 ha cây có múi năm 1999) và Trung du Miền núi phía Bắc (474 ha bưởi). Hiệu quả kinh tế của mô hình bưởi Diễn ước tính cao gấp 4–5 lần trồng lúa, mang lại thu nhập trên 10 triệu đồng/sào (360 m²). Mô hình thực nghiệm năm 2017 tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội) với quy mô 2 ha cho thấy việc ứng dụng quy trình kỹ thuật tăng tỷ lệ đậu quả giúp năng suất tăng từ 7 tấn lên 35–50 tấn/ha, độ Brix đạt 13–15%.
- Khung nguyên lý nông học: Tác giả hệ thống hóa các biện pháp kỹ thuật canh tác như một cấu phần của quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), bao gồm cày phơi ải diệt nguồn nấm khuẩn, bố trí mùa vụ lệch pha phát sinh sâu hại, bón phân hữu cơ hoai mục nhằm kích thích hệ vi sinh vật đối kháng tiết kháng sinh kìm hãm tuyến trùng và nấm bệnh, cắt tỉa cành tạo độ thông thoáng.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các báo cáo tài chính nội bộ, thống kê hoạt động chăn nuôi - trồng trọt từ sổ sách theo dõi của trang trại Bùi Huy Hạnh; tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ Niên giám FAOSTAT, các đề tài nghiên cứu nông nghiệp của Viện Nghiên cứu Rau Quả, Đại học Nông nghiệp Hà Nội và các trang tin chuyên ngành.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại (ông Bùi Huy Hạnh) và các công nhân lao động trực tiếp ngoài đồng ruộng thông qua bảng câu hỏi bán cấu trúc (kết hợp câu hỏi đóng và mở) để khai thác các chỉ tiêu về vốn đầu tư, nhân lực, kỹ thuật canh tác, áp lực dịch bệnh và kênh phân phối.
- Phương pháp bố trí kỹ thuật thực nghiệm: Trực tiếp triển khai các thao tác kỹ thuật nông nghiệp tại hiện trường, theo dõi và ghi nhận các thông số kỹ thuật trên diện tích bưởi Diễn 3 năm tuổi của trang trại (quy trình ủ phân vi sinh, vi ghép chồi nêm, đốn tỉa tạo tán cành cấp 3, xử lý hóa chất bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của cây bưởi trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập nông thôn. Tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu tại trang trại Bùi Huy Hạnh: quy mô diện tích cây ăn quả tương đối lớn nhưng năng suất và hiệu quả kinh tế chưa tương xứng do phương pháp canh tác thiếu đồng bộ, kỹ thuật chăm sóc lạc hậu và liên kết tiêu thụ lỏng lẻo. Từ đó xác định rõ 2 mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ trọng tâm của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa toàn diện các số liệu trong nước và quốc tế về ngành hàng bưởi:
- Thống kê năng suất, diện tích, sản lượng của các cường quốc sản xuất bưởi (Trung Quốc, Mỹ, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ).
- Phân tích hiện trạng phát triển các vùng bưởi đặc sản Việt Nam (Diễn, Da Xanh, Phúc Trạch, Đoan Hùng, Thanh Trà) và giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác.
- Tổng kết các giải pháp kỹ thuật canh tác then chốt (luân canh, làm đất phơi ải, kỹ thuật cắt tỉa bấm ngọn, cơ chế phòng bệnh qua hệ vi sinh vật đất).
- Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ: địa hình bồi đắp bởi hệ thống sông Thái Bình, tầng canh tác dày trên 0,6m, pH đất từ 5,5–7, mực nước ngầm sâu dưới 0,8m; khí hậu nhiệt đới gió mùa có biên độ nhiệt lớn (nhiệt độ mùa hè lên đến 37–38°C, độ ẩm 75–82%, lượng mưa bình quân 1.600–1.800 mm/năm); giao thông thuận tiện với tuyến cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và đường huyện nhựa hóa 3,6 km.
- Phân tích cơ cấu tổ chức của trang trại Bùi Huy Hạnh: Giám đốc Bùi Huy Hạnh, Phó Giám đốc Bùi Huy Hanh; tổng số 35 lao động (6 công nhân làm vườn, 27 công nhân chăn nuôi, 2 kỹ sư chăn nuôi).
Phần 3: Nội dung và phương pháp thực hiện
Xác định khung thời gian nghiên cứu thực địa (21/06/2018 – 21/11/2018), đối tượng khảo sát và ba nội dung triển khai chính: đánh giá hiện trạng sản xuất toàn diện của trang trại, quy trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật trên cây bưởi Diễn và tổng kết bài học kinh nghiệm cho quá trình thực tập tốt nghiệp. Mô tả cụ thể hai công cụ thu thập dữ liệu (thứ cấp từ báo cáo tài liệu; sơ cấp qua phỏng vấn trực tiếp).
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phản ánh các số liệu thực chứng thu thập tại trang trại:
1. Hiện trạng sản xuất của trang trại Bùi Huy Hạnh:
- Quy hoạch chăn nuôi: Chăn nuôi lợn nái là lĩnh vực kinh tế nòng cốt, quyết định nguồn thu chính của cơ sở và cung cấp lượng chất thải dồi dào cho trồng trọt.
- Quy mô cây ăn quả: Tổng diện tích cây ăn quả duy trì ổn định mức 2,4 ha qua 3 năm (2016–2018). Cơ cấu có sự chuyển dịch: năm 2018 đã chặt bỏ hoàn toàn 0,1 ha cam sành hiệu quả thấp để mở rộng diện tích bưởi lên 1,6 ha. Trang trại áp dụng chiến lược "lấy ngắn nuôi dài", sử dụng nguồn thu sớm từ táo và ổi để bù đắp chi phí kiến thiết cơ bản vườn bưởi.
- Cơ cấu giống bưởi: Năm 2018, trang trại trồng 3 giống bưởi chính trên tổng diện tích 1,5–1,6 ha. Toàn bộ cây bưởi mới 3 năm tuổi nên đang trong giai đoạn khống chế hoa quả để nuôi khung tán sinh trưởng, chưa có sản lượng thương phẩm.
- Khó khăn nhận diện: 9 nhóm rào cản lớn gồm thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật; cơ giới hóa thấp; chất lượng hàng hóa chưa đồng nhất; thiếu liên kết hợp tác xã; nước tưới phụ thuộc thiên nhiên; mật độ trồng quá dày; sử dụng phân chuồng chưa hoai mục; cây thiếu kỹ thuật đốn tỉa tạo tán; sâu bệnh hại phát sinh nghiêm trọng.
2. Các biện pháp kỹ thuật do sinh viên trực tiếp áp dụng:
- Kỹ thuật ủ phân chuồng: Sử dụng phân lợn kết hợp trấu, bổ sung chế phẩm sinh học vi nấm và vi khuẩn Trichoderma-Bacillus. Đống ủ cao 1–1,5m, độ ẩm kiểm soát ở mức 50–55%, phủ bạt nilon sẫm màu. Sau 15–20 ngày tiến hành đảo trộn và tưới bổ sung nước; sau 35–50 ngày phân hoai mục hoàn toàn để bón cho cây.
- Kỹ thuật nhân giống bằng ghép nêm: Sử dụng dao ghép chuyên dụng và băng nilon tự hủy. Cắt phẳng gốc ghép, chẻ dọc tâm cành 2 cm. Cành ghép dài khoảng 6 cm, vát nêm 2 cm rồi cắm khít vào gốc ghép, quấn chặt bằng băng tự hủy. Sau 30 ngày cành nhú lá non thì tiến hành tháo băng buộc.
- Kỹ thuật đào hố và trồng mới: Kích thước hố vuông 0,6 × 0,6m, chiều sâu 0,7–0,8m, mật độ khoảng cách 5 × 5m. Rắc vôi bột khử chua, cân bằng pH; trộn đất với phân chuồng hoai mục và NPK, ủ 4–5 ngày trước khi hạ bầu cây.
- Kỹ thuật cắt tỉa tạo cành cấp 3: Cây bưởi năm thứ 3 đã có cành cấp 1 và cấp 2. Tiến hành bấm ngọn cành cấp 2 (ở độ dài 20–25 cm) để kích thích phân hóa cành cấp 3 (cành mang quả sau này). Cắt tỉa cành tăm, cành sâu bệnh, cành vượt, cành la sát đất và cành ngắn mùa xuân.
- Kỹ thuật bón phân giai đoạn kiến thiết cơ bản: Đào rãnh tròn theo mép hình chiếu tán sâu 30 cm, rộng 30 cm. Đợt bón tháng 8: bón 50 kg phân chuồng hoai mục + 250g đạm urê + 150g kali clorua/cây. Đợt bón tháng 11: bón 1,2 kg lân + 1 kg vôi bột/cây.
- Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh:
- Sâu vẽ bùa: Phun thuốc VBTusa WP (16.000 IU/mg) với liều lượng 400 lít nước/ha (pha 20g/bình 16 lít), phun đẫm 2 mặt lá lúc sáng sớm/chiều mát, phun nhắc lại sau 5 ngày, thời gian cách ly 7 ngày.
- Sâu đục thân: Bắt trưởng thành thủ công, dùng móc thép tiêu diệt sâu non trong đường hầm mạch gỗ; tiêm thuốc Wofatox 1% vào lỗ đùn phân tươi; dùng bông thấm thuốc nhét vào lỗ đục và bịt kín miệng; quét vôi kết hợp lưu huỳnh vào gốc cây sau vụ thu hoạch.
- Nhện đỏ: Phun dầu khoáng DS liều lượng 600–1.000 lít/ha (pha 60ml/bình 8 lít) ướt đều tán lá khi nhện mới xuất hiện.
- Bệnh vàng lá thối rễ: Tiêu hủy cây bệnh nặng; rắc vôi khử trùng đất; bón phân chuồng ủ Trichoderma; tăng cường phân lân và kali; xử lý thuốc phối hợp hoạt chất Mancozeb (80g) + Metalaxyl (16g) pha trong bình 16 lít tưới đều quanh vùng rễ.
3. Bài học kinh nghiệm thực tập tốt nghiệp:
Phân tích điểm mạnh (nền tảng lý thuyết vững, tác phong nghiêm túc, chịu khó) và hạn chế của bản thân sinh viên (kỹ năng nghề nghiệp thực tế còn non yếu, chưa chủ động đề xuất giải pháp). Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Khoa Nông học, Sinh viên thực tập và Doanh nghiệp tiếp nhận.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng kết tình hình sản xuất, chỉ rõ các biện pháp kỹ thuật cốt lõi sinh viên đã đưa vào ứng dụng thực tế. Đề xuất trang trại cần mở lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả định kỳ cho công nhân và định hướng chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực chứng về sản xuất tại trang trại Bùi Huy Hạnh
Bảng 1: Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi giai đoạn 2016 – 2018
| Loại vật nuôi |
Năm 2016 (con) |
Năm 2017 (con) |
Năm 2018 (con) |
| Lợn nái |
1.250 |
1.316 |
1.350 |
| Gà (nuôi cung cấp cho CP và trang trại) |
1.000 |
1.000 |
1.000 |
| Ngan (2 lứa/năm, 50 con/lứa) |
100 |
100 |
100 |
Ghi chú: Trang trại xuất chuồng khoảng 20 lứa lợn giống/năm (tương đương 28.000 con lợn con/năm), đem lại lợi nhuận ròng sau chi phí đạt trên 2 tỷ đồng/năm.
Bảng 2: Diện tích sản xuất cây ăn quả giai đoạn 2016 – 2018 (Đơn vị: ha)
| Loại cây trồng |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
| Bưởi |
1,5 |
1,5 |
1,6 |
| Chanh |
0,3 |
0,3 |
0,3 |
| Táo |
0,3 |
0,3 |
0,3 |
| Ổi |
0,2 |
0,2 |
0,2 |
| Cam |
0,1 |
0,1 |
0 |
| Tổng diện tích |
2,4 |
2,4 |
2,4 |
Bảng 3: Cơ cấu diện tích các giống bưởi năm 2018
| Giống bưởi |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ cơ cấu (%) |
| Bưởi Diễn |
0,6 |
37,50 |
| Bưởi Da Xanh |
0,5 |
31,25 |
| Bưởi Quế Dương |
0,5 |
31,25 |
| Tổng cộng |
1,5 |
100,0 |
Đóng góp thực tiễn của đề tài
- Chuẩn hóa kỹ thuật xử lý phân bón: Thay thế thói quen bón phân chuồng tươi nguy hại bằng quy trình ủ yếm khí kết hợp đảo trộn phân lợn + trấu + chế phẩm sinh học Trichoderma-Bacillus, giải quyết triệt để nguy cơ nhiễm nấm bệnh cho rễ bưởi.
- Khôi phục cấu trúc sinh trưởng tán cây: Kỹ thuật bấm ngọn cành cấp 2 ở đoạn 20–25 cm đã định hình được bộ khung cành cấp 3 phân bố đa hướng, hạn chế giao tán và tối ưu hóa diện tích quang hợp cho cây 3 năm tuổi.
- Thiết lập quy trình bảo vệ thực vật có kiểm soát: Chấm dứt tình trạng phun thuốc BVTV tràn lan; áp dụng chính xác các nồng độ hoạt chất đặc trị (VBTusa WP, dầu khoáng DS, Mancozeb phối hợp Metalaxyl, Wofatox 1%) gắn liền với biện pháp vệ sinh đồng ruộng, tỉa cành bệnh và bắt sâu hại thủ công.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do vườn bưởi Diễn của trang trại mới bước sang năm tuổi thứ 3 (đang trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, chủ trang trại chủ động tỉa bỏ toàn bộ hoa để kích thích phát triển sinh khối thân cành), khóa luận hoàn toàn chưa có số liệu thực nghiệm về năng suất quả, sản lượng thu hoạch, độ Brix và các phân tích tài chính về doanh thu từ quả bưởi thương phẩm. Khung thời gian thực hiện đề tài chỉ kéo dài 5 tháng (tháng 6 đến tháng 11/2018), chưa bao quát hết chu kỳ sinh trưởng trọn vẹn 1 năm của cây bưởi.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi diễn biến sinh trưởng và khả năng đậu quả khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh (năm thứ 4–5 trở đi); đánh giá các chỉ tiêu chất lượng nông sản (đường tổng số, vitamin C, độ ngọt Brix); hoàn thiện hồ sơ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt VietGAP và thiết lập kênh liên kết tiêu thụ sản phẩm bưởi Diễn ổn định cho trang trại.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên các ngành Nông học, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Quản lý trang trại: Nắm bắt chi tiết các bước chuyển giao kỹ thuật từ sách vở vào mô hình sản xuất nông nghiệp thực tế, học hỏi phương pháp đánh giá thực trạng kinh tế kỹ thuật của một trang trại tổng hợp VAC (Vườn - Ao - Chuồng).
- Chủ trang trại, cán bộ khuyến nông và nông dân trồng cây ăn quả có múi: Tham khảo trực tiếp quy trình ủ phân hữu cơ vi sinh quy mô trang trại nhằm tận dụng nguồn phân chuồng nuôi lợn tại chỗ; áp dụng trực tiếp các thông số kỹ thuật đốn tỉa cành cấp 3 cho bưởi thời kỳ kiến thiết và công thức phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại phổ biến.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu diện tích và các giống bưởi được trồng tại trang trại Bùi Huy Hạnh năm 2018 như thế nào?
Năm 2018, trang trại trồng 3 giống bưởi chính với tổng diện tích 1,5 ha (trong tổng số 1,6 ha đất quy hoạch cho bưởi): bưởi Diễn chiếm diện tích lớn nhất với 0,6 ha (tương ứng 37,5%), bưởi Da Xanh chiếm 0,5 ha (31,25%) và bưởi Quế Dương chiếm 0,5 ha (31,25%).
2. Quy trình ủ phân chuồng bằng chế phẩm vi sinh tại trang trại được sinh viên thực hiện qua các bước kỹ thuật nào?
Nguyên liệu gồm phân lợn và trấu được trộn đều. Sau đó hòa chế phẩm sinh học Trichoderma-Bacillus với nước, tưới đều lên đống ủ để đạt độ ẩm 50–55% (kiểm tra bằng cách nắm phân thấy nước vừa rịn kẽ tay). Đống ủ được đánh luống cao 1–1,5m và đậy kín bằng bạt nilon tối màu. Sau 15–20 ngày, mở bạt ra đảo trộn đều, tưới bổ sung nước rồi ủ tiếp 15–20 ngày nữa. Sau 35–50 ngày kể từ lúc bắt đầu, đống phân hoai mục hoàn toàn và có thể đem bón cho cây.
3. Công thức bón phân cho cây bưởi Diễn giai đoạn kiến thiết cơ bản tại trang trại trong năm 2018 được phân chia như thế nào?
Phân được bón theo rãnh đào xung quanh hình chiếu tán cây (rộng 30 cm, sâu 30 cm) qua 2 đợt chính:
- Đợt tháng 8: Bón 50 kg phân chuồng hoai mục + 250g đạm urê + 150g kali clorua cho mỗi gốc cây.
- Đợt tháng 11: Bón 1,2 kg phân lân + 1 kg vôi bột cho mỗi gốc cây.
4. Sinh viên đã áp dụng biện pháp hóa học và sinh học nào để kiểm soát sâu vẽ bùa và bệnh vàng lá thối rễ trên vườn bưởi?
- Đối với sâu vẽ bùa: Phun thuốc VBTusa WP (16.000 IU/mg) với liều lượng 400 lít/ha (pha 20g/bình 16 lít), phun ướt đẫm hai mặt lá vào sáng sớm hoặc chiều mát; định kỳ 5 ngày phun lại lần 2, thời gian cách ly là 7 ngày.
- Đối với bệnh vàng lá thối rễ: Thu gom tiêu hủy cây bệnh nặng và rắc vôi bột; bón bổ sung phân chuồng hoai mục ủ chế phẩm Trichoderma kết hợp phân lân, kali để kích thích rễ mới phục hồi; với cây mới chớm bệnh thì tưới hoặc phun hỗn hợp thuốc Mancozeb (80g) + Metalaxyl (16g) trên bình 16 lít.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Quốc Huy đã phản ánh một cách toàn diện thực trạng sản xuất tại trang trại Bùi Huy Hạnh (xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương), nơi chăn nuôi lợn nái là nguồn thu trụ cột và cây ăn quả có múi đang được định hình làm hướng đi chiến lược. Thông qua đợt thực tập tốt nghiệp 5 tháng, các can thiệp nông học chuẩn xác như quy trình ủ phân hoai mục bằng nấm đối kháng, ghép nêm nhân giống, tạo tán cành cấp 3 và quản lý dịch hại đúng kỹ thuật đã từng bước khắc phục tình trạng canh tác theo kinh nghiệm, tạo nền tảng vững chắc cho sinh trưởng của vườn bưởi Diễn 3 năm tuổi. Đây là công trình thực nghiệm gắn liền với sản xuất nông nghiệp thực tế, đem lại nhiều giá trị ứng dụng cho cả cơ sở thực tập và quá trình đào tạo chuyên môn của ngành trồng trọt.