Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tóm tắt các nghiên cứu đã thực hiện Có thể kế đến một số đề tài đã thực hiện trước đó như: - Bùi Thành Công (2010): “Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đông Á chi nhánh Huế” Khóa luận tốt nghiệp đại học K40 TCNH, Đại học Kinh tế Huế. - Cao Huy Tuyến (2011): “Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Huế”. Và còn nhiều đề tài nghiên cứu khác liên quan đế vấn đề này. Một số điểm nổi bật mà các đề tài này đã làm được: - Phân tích được chỉ tiêu nợ quá hạn tại Ngân hàng.
- Đưa ra hệ thống chỉ tiêu cũng như nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. - Đề xuất giải pháp nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại NH. Tuy nhiên, để có cách đánh giá chính xác nhất về rủi ro TD tại NH, cần đi sâu phân tích thực trạng TD, rủi ro TD tại NH, từ đó khảo sát các biện pháp NH đã và đang áp dụng, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ KH, những người trực tiếp đối mặt với rủi ro để xác định chính xác nguyên nhân dẫn đến rủi ro TD, từ đó đề xuất giải pháp mang tính thực tiễn cao. Đây cũng chính là mục tiêu mà đề tài của tôi đặt ra trong quá trình nghiên cứu.2 Các vấn đề chung về tín dụng ngân hàng 1.
Khái niệm chung về tín dụng ngân hàng Tín dụng xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng Anh là Credit. Theo ý nghĩa thông thường, “tín dụng” có nghĩa là sự vay mượn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận mà tín dụng có thể được hiểu như là: Sự trao đổi các tài sản hiện tại để được nhận các tài sản cùng loại trong tương lai.
Hoặc có thể định nghĩa tín dụng như là quan hệ kinh tế, theo đó một người thỏa Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trà My – K42 TCNH 4 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Phan Thị Minh Lý thuận để người khác được sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả. Trong đời sống, TD thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng trong các hình thức đó thì TD Ngân hàng là một hình thức TD quan trọng, nó góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển, làm giảm chi phí lưu thông cũng như thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn… Trong Pháp lệnh về tín dụng Chương 4 định nghĩa: “Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng (tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân.Trong đó, chủ thể cho vay là các tổ chức tín dụng, chủ thể đi vay là cá nhân và các tổ chức. Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng NH có thể được thể hiện dưới dạng: + Hợp đồng tín dụng ngân hàng, + Hợp đồng thuê mua tài chính, + Các thỏa thuận chiết khấu giữa ngân hàng và khách hàng, + Các cam kết bảo lãnh giữa ngân hàng và khách hàng.” Hay trong sách về nghiệp vụ tín dụng có định nghĩa: “Tín dụng ngân hàng là hoạt động tín dụng của ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế.
Như vậy, tín dụng ngân hàng bao gồm cả hoạt động ngân hàng với tư cách người được cấp tín dụng lẫn với tư cách người cấp tín dụng. Song do tính phức tạp và quan trọng của nó mà khi nói tới tín dụng ngân hàng người ta muốn đề cập tới hoạt động NH với tư cách người cấp tín dụng.”[12] Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể tổng hợp lại và đưa ra một khái niệm chung về tín dụng ngân hàng như sau: Tín dụng NH là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (NH và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trà My – K42 TCNH 5 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Phan Thị Minh Lý 1.2 Bản chất của tín dụng Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau: - Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. - Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.3 Phân loại hoạt động tín dụng Phân loại cho vay là sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro TD.
NHTM thực hiện cho vay đối với nhiều đối tượng khác nhau, với nhiều hình thức khách nhau, thời hạn khác nhau. Một số phân loại cho vay dựa trên các căn cứ khác nhau sẽ được trình bày dưới đây: - Dựa vào mục đích cho vay, hoạt động TD có thể chia thành các loại sau: + Cho vay phục vụ SXKD công thương nghiệp: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung thêm vốn lưu động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. + Cho vay tiêu dùng cá nhân: cấp TD cho các cá nhân cho nhu cầu vay vốn để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hoặc trang trải các chi phí thông thường của đời sống. + Cho vay mua bán bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, nhà xưởng và các bất động sản khác.
+ Cho vay sản xuất nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông nghiệp (chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây xanh, thức ăn gia súc). + Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu. + Cho vay các định chế tài chính bao gồm cho vay các NH, các công ty TC, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng, các định chế TC khác. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trà My – K42 TCNH 6 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS.
Phan Thị Minh Lý - Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động TD có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. + Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm đến dưới 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. - Dựa vào mức độ tín nhiệm của KH hoạt động TD có thể chia thành loại sau: + Cho vay không có bảm đảm: là loại cho vay không có TSĐB, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của KH để quyết định cho vay. + Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
- Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng phân chia thành các loại: + Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn KH và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà tổ chức TD và KH xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong khoản thời gian nhất định. + Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận KH chi vượt số tiền trên tài khoản thanh toán của KH. - Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động TD có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.4 Qui trình tín dụng Trong quan hệ tín dụng NH, khi thực hiện cho vay NH luôn tìm cách khai thác tối đa thông tin về KH để làm rõ năng lực sử dụng vốn vay và khả năng hoàn trả vốn vay của KH để làm cơ sở cho những quyết định cho vay đối với KH. Việc NH nắm những thông tin không đầy đủ, bị bóp méo về KH (trong kinh tế học gọi chung là Sinh viên thực hiện: Nguyễn Trà My – K42 TCNH 7 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Phan Thị Minh Lý thông tin bất cân xứng) là nguyên nhân dẫn tới việc hình thành rủi ro TD. Để giải quyết vấn đề này, các NH thường xây dựng một quy chế cho vay chung mô tả chi tiết toàn quá trình bao gồm các bước nguyên tắc thực hiện khi xét duyệt cho vay và được gọi là quy trình tín dụng.
Như vậy, quy trình tín dụng có thể được định nghĩa như sau: Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng, nó thường được thể hiện tổng quát trong chính sách tín dụng nhưng luôn được cụ thể hóa bằng các quy định riêng. Quy trình tín dụng bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, chặt chẽ gắn bó với nhau.