chương 1 Tác giả đã giới thiệu sơ lược về Công ty Trách nhiệm Hữu hạn May Xuất Nhập Khẩu Thành Trực. Từ đó có thể thấy được quá trình hình thành và phát triển của công ty từ khi thành lập cho đến bây giờ; thấy được lĩnh vực hoạt động của công ty là sản xuất, thương mại và gia công các mặt hàng may mặc cũng như biết về quy mô tổ chức cũng như năng lực sản xuất của công ty. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về quản lý chất lượng toàn diện (TQM) 2.1 Khái niệm TQM TQM là cụm từ viết tắt của Total Quality Management, có nghĩa là “ Quản lý chất lượng toàn diện”. Theo Hasan và cộng sự (2018) đã nhận định rằng khái niệm đầu tiên là “Total” có nghĩa là toàn bộ quy trình sản xuất và sự cải tiến liên tục của tất cả mọi thứ trong một tổ chức.
Khái niệm thứ hai đó là 'Quality' mà trong TQM nó được định nghĩa là sự đáp ứng thậm chí là vượt trên cả sự mong đợi, sở thích, nhu cầu và yêu cầu của khách hàng (Bruçaj, 2019). Cuối cùng là “Management” bao gồm tất cả mọi người trong một tổ chức mà ở đó họ sẽ là người quản lý các quy trình theo vị trí và trách nhiệm của mình, một tổ chức nếu không có sự lãnh đạo và quản lý tốt thì chắc chắn sẽ không đạt được chất lượng tốt(Kigozi & On, 2019). Theo Hossin và cộng sự (2020) đã nói rằng TQM là một phương pháp quản lý đã tồn tại vào năm 1950 và bắt đầu trở nên phổ biến hơn kể từ đầu năm 1980 khi các nhà nghiên cứu họ bắt đầu tìm ra các yếu tố cải thiện chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức. Có người coi TQM là một cái gì đó cần thiết để có được khả năng cạnh tranh nhưng những người khác thì nói rằng TQM chỉ đơn thuần là quản lý.
Pushpa (2016) đã chỉ ra rằng TQM là một triết lý quản lý hiện đại được thực hiện trực tiếp và là một hệ thống quản lý toàn diện với mục đích là đem lại những thay đổi mới với mọi thứ trong tổ chức để đầu ra đạt được chất lượng cao nhất. Nhìn chung, TQM là một phương pháp quản lý có khoa học, có định hướng chất lượng nhằm đem lại hiệu quả tối ưu nhất cho khách hàng. TQM có điểm nổi bật khác với các phương pháp khác đó là TQM cung cấp một hệ thống toàn diện về các hoạt động liên quan đến chất lượng và sự tham gia của tất cả nhân viên để đạt được mục tiêu chất lượng đề ra. Hơn thế nữa, TQM luôn chủ động trong việc đáp ứng mọi nhu cầu và đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng.2 Mục tiêu chính của TQM Mục tiêu cao nhất của TQM là luôn luôn hướng tới cải tiến chất lượng sản phẩm để thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất chứ không phải đơn thuần là chỉ giảm thiểu lỗi của sản phẩm.
Nói chung mục tiêu của TQM là sự đồng lòng vì chất lượng, mặc dù có sự phân biệt trách nhiệm từ lãnh đạo, nhân viên cho đến công nhân nhưng phải có mối quan hệ mật thiết với nhau.Và TQM luôn đặt mục tiêu là cải tiến liên tục chất lượng sản phẩm vượt trên cả sự mong đợi của khách hàng.3 Các yếu tố áp dụng thành công TQM ● Để có thể thành công khi triển khai TQM thì điều cơ bản đầu tiên là tổ chức đó phải cho khách hàng cảm nhận được sự thoả mãn nhu cầu của họ bằng chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra. Do đó, để đạt được điều này tổ chức cần phải thường xuyên nghiên cứu thị trường để nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Coi khách hàng là một phần không thể thiếu. Thường xuyên lấy ý kiến đánh giá phản hồi của khách hàng về các sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức cung cấp để xem nhận thức của khách hàng về chất lượng đó như thế nào.
Từ đó có các giải pháp can thiệp kịp thời cũng như thấy được sự ưa thích hơn của khách hàng đối với sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh. ● Luôn đặt chất lượng là mục tiêu hàng đầu chứ không phải mục tiêu ngắn hạn và luôn coi trọng chính sách chất lượng. Luôn đảm bảo tính nhất quán giữa chính sách chất lượng và phương châm của công ty vì mục tiêu chất lượng chung. Điều quan trọng nhất là chất lượng phải được tạo ra ở mọi công đoạn trong toàn bộ quy trình sản xuất chứ không phải chỉ riêng một công đoạn nào.
● TQM coi con người là nhân tố quan trọng, là chìa khoá để thành công. Đây là điều cơ bản để phân biệt sự khác nhau giữa TQM và các hệ quản lý chất lượng khác. Do đó yêu cầu mọi người cũng như các nhà quản lý cấp cao phải luôn có ý thức về chính sách,quản lý chất lượng. Vì thế các tổ chức phải luôn coi trọng vấn đề giáo dục và đào tạo để nâng cao ý thức tự giác vì mục tiêu chung của tổ chức.
Đào tạo kiến thức về chuyên môn và đào tạo kỹ năng kiến thức về chất lượng cũng như là quản lý chất lượng. 13 ● Luôn thực hiện theo phương châm “ phải làm đúng ngay từ đầu”. Sử dụng thêm các công cụ thống kê vào quản lý chất lượng để phát hiện ra được các nguyên nhân gốc rễ gây lỗi nhằm ngăn chặn kịp thời các sai sót có thể xảy ra. ● Xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài với người cung cấp nhằm đảm bảo chất lượng đầu vào luôn đảm bảo kịp thời và có chất lượng cao.4 Khó khăn khi thực hiện TQM trong ngành may mặc Khó khăn trong quá tình trình triển khai TQM bắt nguồn từ một số lĩnh vực chính.
Theo Aladwan và Forrester (2016) cho rằng đó là do ban quản lý trong lĩnh vực may mặc miễn cưỡng trao quyền cho nhân viên vì họ sợ rằng nhân viên sẽ lạm dụng chức vụ khi được trao quyền. Nhưng rõ ràng là theo các tài liệu nghiên cứu trước đây thì việc trao quyền cho nhân viên sẽ giúp họ thực hiện công việc hiệu quả hơn (Aamer và cộng sự, 2017). Theo BGMEA(2017) thì nói rằng khó khăn thứ hai là do nguồn lực bởi vì có tới 90% công nhân may mặc ở Bangladesh mù chữ và không được đào tạo kỹ thuật hiện đại. Thứ ba, quản lý cấp cao không thúc đẩy người sử dụng lao động tham gia tích cực vào công việc của họ thông qua xây dựng đội ngũ, mặc dù đó là một yêu cầu quan trọng đối với tiêu chuẩn chất lượng.
Do đó, rõ ràng là việc phát triển văn hóa cải tiến chất lượng liên tục vốn là điều kiện tiên quyết của việc triển khai TQM nhưng lại bị cản trở trong các tổ chức lĩnh vực may mặc do thiếu động lực, trao quyền và nỗ lực đào tạo, hỗ trợ nhân viên. Bangladesh đã đạt được vị trí hàng đầu trên thế giới về sản xuất hàng may mặc bởi vì chi phí sản xuất thấp do nhân công rẻ. Theo BGMEA (2017), giá trị tiền lương trong sản xuất hàng may mặc năm 2017 đã tăng gấp 1,5 lần so với những năm trước. Nếu chi phí lao động tiếp tục tăng với tốc độ như vậy, Bangladesh sẽ mất thị trường.
Kết quả là, Bangladesh sẽ mất tăng trưởng kinh tế cũng như cơ hội việc làm. Để khắc phục tình trạng này, các tổ chức trong lĩnh vực may mặc của Bangladesh nên nghiên cứu các phương pháp thay thế khác để giảm chi phí sản xuất (Syduzzaman và cộng sự, 2016). Do đó, việc áp dụng triết lý TQM là một giải pháp vô cùng phù hợp vì nó sẽ giúp hỗ trợ làm tăng năng suất tổng thể của tổ chức cũng như tính bền vững trên thị trường (Carnerud, 2018). Dựa trên tình hình thị trường, việc nghiên cứu các yếu tố để hỗ trợ triển khai TQM trong lĩnh vực may mặc của Bangladesh đã trở nên rất cần thiết, nó sẽ 14 góp phần làm cho các hoạt động triển khai dễ dàng và thành công hơn (Imran và Gregor, 2010).
Theo Aquilani và cộng sự (2017) đã nói rằng mặc dù một số nhà nghiên cứu đã xác định được các yếu tố hỗ trợ triển khai TQM từ các quan điểm khác nhau, nhưng họ đã bỏ qua sự thay đổi tổng thể của một tổ chức, đây là một trong những yêu cầu thiết yếu nhất để triển khai TQM.5 Một số nghiên cứu TQM về các CSF được thảo luận nhiều nhất Rezaie (2009) đã nói rằng việc thực hiện thành công TQM còn phụ thuộc vào các yếu tố thành công quan trọng (CSFs) tác động đến quá trình triển khai. CSFs rất quan trọng không chỉ cho sự thành công của quy trình hoặc chương trình TQM mà còn đối với hiệu suất hoạt động của cả công ty. Oakland và cộng sự. (2005) đã xác định CSFs là các yếu tố quan trọng mà tổ chức cần phải nghiên cứu để đạt được mục tiêu của mình bằng cách sẽ kiểm tra và phân loại sự tác động của các yếu tố.
Cho đến nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các CSF khác nhau tùy theo phát hiện riêng của họ.Ví dụ như Saraph et al. (1989) đã lập luận rằng có 7 CSF để thực hiện TQM chẳng hạn như lãnh đạo cao nhất, vai trò của bộ phận chất lượng, thiết kế sản phẩm,quản lý chất lượng nhà cung cấp, quản lý quy trình, báo cáo dữ liệu chất lượng và nhân viên quan hệ. Còn theo Antony và Coronado (2002) nhận thấy rằng có 11 CSF tác động đến TQM như cam kết quản lý, vai trò của bộ phận chất lượng, đào tạo và giáo dục, sự tham gia của nhân viên, cải tiến liên tục, quan hệ đối tác với nhà cung cấp, thiết kế sản phẩm, chính sách chất lượng, dữ liệu chất lượng, truyền thông để nâng cao chất lượng và hướng đến sự hài lòng của khách hàng. Kết hợp tốt tất cả các CSF với nhau sẽ dẫn đến việc chất lượng được cải thiện bền vững.
Nói chung, CSFs được xem như là yếu tố để từ đó xác định độ hiệu quả hoạt động của công ty thông qua việc thực hiện thành công TQM. Abdullah và cộng sự (2009) cho thấy rằng các CSF có sự ảnh hưởng đến hiệu suất của tổ chức, Talib và Rahman (2010) cũng khẳng định rằng việc triển khai thành công TQM có liên quan đến CSF vì thế CSF là động lực chính để đạt được kết quả tốt. Rezazadeh và cộng sự (2012) đã đánh giá và xếp hạng thứ tự ưu tiên cho các CSF, qua đó phát hiện ra rằng khả năng lãnh đạo là quan trọng nhất, yếu tố tiếp theo là tinh thần đồng đội.