Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi gia cầm đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới trong khoảng 10 năm trở lại đây và đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Gia cầm chiếm 20 - 25% tổng sản phẩm thịt và hơn 30% ở các nước phát triển. Theo dự báo đến năm 2030; lượng tiêu thụ thịt gia cầm ở những nước đang phát triển sẽ tăng tới mức 3,4%/năm; trứng tăng 2,1%. Trên toàn thế giới; lượng gia cầm được tiêu thụ dự đoán sẽ tăng khoảng 2,5%/năm đến năm 2030; riêng các loại thịt khác chỉ tăng ở mức 1,7%.
Ở các nước đang phát triển, nhu cầu ngày với sản phẩm thịt và trứng gia cầm ngày càng tăng; góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa các hệ thống sản xuất chăn nuôi nói chung. Riêng, ngành chăn nuôi gia cầm có mức độ công nghiệp hóa phổ biến nhất. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng các sản phẩm gia cầm, vì vậy việc thực hiện đúng quy trình trong chăn nuôi là hết sức quan trọng. Ngoài ra, khi trực tiếp thực hiện quy trình chăn nuôi, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp của sinh viên được nâng cao và dần hoàn thiện hơn.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn TS. Trần Văn Thăng và cơ sở thực tập tại Israel tiếp nhận, em đã có thời gian thực tập tốt nghiệp tại trang trại chăn nuôi gà ở Israel 12 tháng và đã thực hiện đề tài: “Đánh giá quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho đàn gà đẻ nuôi tại Kibbutz Neve Harif, Israel”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn gà đẻ trứng nuôi tại Kibbutz Neve Harif ở Israel.
- Thực hiện được quy trình phòng và trị bệnh cho đàn gà đẻ nuôi tại Israel. - Đánh giá hiệu quả kinh tế của giống gà thông qua các chỉ tiêu kĩ thuật. - Bản thân sinh viên có cơ hội trực tiếp rèn luyện kĩ năng và thái độ nghề nghiệp. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà đẻ trứng tại Neve Harif tốt hay không tốt.
- Thực hiện đúng quy trình vệ sinh phòng bệnh cho đàn gà đẻ trứng tại trang trại. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2.
Vị trí địa lý Theo Cục Thống kê Trung ương Israel (2021) [8] Neve Harif nằm trong thung lũng Arabah gần Eilat với dân số 108 người năm 2021. Cách đường 90 là 10 km, cách trung tâm Eilat khoảng 62 km về phía Nam. Trại gà đẻ là trại hợp tác giữa các hộ gia đình trong Kibbuzt Neve Harif, hình thức kết hợp trang trại với lối sống hiện đại thuộc vùng Arava, Israel. Diện tích, đất đai Nằm trên một gò đồi cao 439 m so với mặt nước biển, đất đá là chủ yếu, cách xa khu dân cư, thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi, với diện tích là khoảng 4000 m2.
Trong đó: - Đất làm chuồng trại: 2000 m2 - Đất nhà xưởng đóng gói trứng: 400 m2 - Cơ sở hạ tầng khác khoảng 1600 m2 - Chuồng trại được xây dựng trên đồi cao, dễ thoát nước, cách xa các khu hành chính, theo hướng Đông Nam - Tây Bắc. Nó được bao quanh bởi hàng rào điện và có lối vào riêng. Thời tiết khí hậu Vì nằm trong vùng Arava nên Neve harif có khí hậu khô hạn nóng với lượng mưa hàng năm thấp, gió lục địa khô nhiều và có áp lực nhiệt cao nhất ở Israel. Lượng mưa chỉ khoảng 50 mm/năm trong khi lượng bốc hơi tự nhiên lên đến 1.
Do có lượng mưa rất ít trong hàng chục nghìn năm nên quá trình xói mòn đá và sự phát triển của đất diễn ra rất nhẹ và rất 4 chậm dẫn đến đất ít và nông. Nhiệt độ mùa hè cao và bức xạ mạnh làm bốc hơi và ở nhiều nơi, độ mặn của đất rất cao. Giao thông, thủy lợi Neve Harif gần với các đường giao thông lớn quan trọng, nối liền với các trung tâm kinh tế, thương mại và văn hóa của của vùng và quốc gia. Đường 40 nối từ Paran - Shitim - Neot Samadar - Neve Harif - Ketura; đường 90 nối Vùng biển Đỏ Eilat (miền Nam) trở ra miền bắc của Israel và cũng là cung đường tới các sân bay nội địa Salmon, sân bay quốc tế Tel Aviv.
Ngoài ra, còn giáp với biển và hải cảng về phía Nam. Đó là những yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao thương với bên ngoài. Cơ sở vật chất và tổ chức của nơi thực tập 2. Cơ sở vật chất Trang trại sử dụng khoảng 500 m2 đất để xây dựng khu nhà quản lý điều hành, phòng ở cho công nhân, bếp nấu ăn, vườn trồng rau, nhà thể thao phục vụ cho công nhân và các mục đích khác của trang trại.
Trại nuôi theo hướng công nghiệp, chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông. Cùng hệ thống vòi nước, máng ăn tự động và hệ thống nhặt trứng tự động. Khu chăn nuôi được thiết kế và xây dựng với hệ thống 3 cặp dãy chuồng. Mỗi tầng có 42 lồng.
Hệ thống giàn mát ở đầu dãy chuồng, cuối chuồng có 11 quạt thông gió và hệ thống chuyển phân ra bên ngoài. Hai bên tường cũng có hệ thống giàn mát. Mái được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh và lắp thêm các tấm pin năng lượng mặt trời bên trên để trữ điện phục vụ cho chăn nuôi và giảm sức nóng cho mái chuồng. Đường đi giữa khu chăn nuôi và chuồng trại được đổ bê tông, quét dọn hàng ngày.
Nước uống cho gà được cung cấp từ một bể lớn lắp đặt gần chuồng gia cầm. Có 3 silo chứa thức ăn cho gà. Hệ thống điện mà trại sử dụng là điện 3 pha. 5 Người lao động được cung cấp quần áo bảo hộ, ủng, giày và các vật dụng khác.
Trong khu vực chăn nuôi, lối đi giữa các chuồng được bê tông hóa. Cơ cấu tổ chức Nhân sự của trại gồm có: - 02 Quản lý trại: Trực tiếp điều hành tất cả các công việc ở trại. - 02 Công nhân: Trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà. - 04 Công nhân vệ sinh đóng hộp trứng (Đã bao gồm thực tập sinh).
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các vị trí khác nhau như: Vệ sinh chuồng nuôi, kiểm tra số gà, vệ sinh trứng, đóng hộp và dán tem,. Mọi người đều tuân theo các quy tắc và thực hiện công việc hàng ngày của họ một cách nghiêm túc. Tình hình chăn nuôi gà của trang trại Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất trứng, đóng hộp và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Quy mô nuôi khoảng 48000 gà.
Chuồng nuôi : chuồng kín Diện tích dành cho chăn nuôi : 2000 m2 2. Đánh giá chung 2. Thuận lợi - Được sự quan tâm của Kibbuzt và các cấp có thẩm quyền tạo điều kiện cho sự phát triển của trang trại. - Trang trại được xây dựng: Tách biệt khu dân cư, gần đường giao thông, dễ thoát nước và xử lý môi trường.
- Những người quản lý trại có năng lực và kỹ năng chuyên nghiệp và luôn quan tâm đến đời sống của nhân viên và công nhân của họ. Nhân viên nghiêm túc và làm việc có tinh thần trách nhiệm. Quy trình khép kín và ứng dụng kết quả, khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất chăn nuôi. Khó khăn - Trang thiết bị, máy móc chưa được vệ sinh thường xuyên, bám bụi, đã cũ, có phần bị hư hỏng.
- Số lượng gà nhiều dẫn đến lượng phân thải ra lớn, việc xử lý chất thải của trại còn nhiều khó khăn. - Thời tiết nóng khô hạn gây khó khăn trong việc chăm sóc gà và bảo quản trứng mang đi tiêu thụ. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm sinh lý, tiêu hóa ở gà Trao đổi chất và năng lượng ở gà nói riêng và gia cầm nói chung cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh chóng bởi quy trình tiêu hoá ở gà và hấp thu các chất dinh dưỡng. Theo Trịnh Ngọc Trinh (2018) [16] Khối lượng rất lớn các chất tiêu hoá đi qua ống tiêu hoá thể hiện tốc độ và cường độ của các quy trình tiêu hoá ở gà, vịt… ở gà con non tốc độ đó là 30 - 39 cm/giờ; gà con lớn hơn 32 - 40 cm và gà lớn 40 - 42 cm, chất tiêu hoá được giữ lại trong ống tiêu hoá không vượt quá 2 - 4 giờ. * Miệng tiêu hóa ở gà: - Gia cầm dùng mỏ để lấy thức ăn, lúc đói mổ nhanh, có thể lên tới 180-240 lần trên phút. Bề mặt lưỡi có sừng giúp hướng thức ăn từ miệng xuống thực quản.
Thị giác và xúc giác giúp chúng lựa chọn thức ăn mà chúng yêu thích, còn vị giác và khứu giác ý nghĩa kém hơn. Theo Trần Thanh Vân và cs.,2015) [7], Tuyến nước bọt không chứa enzym, chỉ hỗ trợ làm trơn thức ăn di chuyển vào thực quản. Thức ăn di chuyển vào diều, khi đói sẽ theo ống diều vào dạ dày. Tuyến nhầy của thực quản tiết dịch nhầy làm thức ăn di chuyển đơn giản.
7 * Tiêu hóa ở diều gà: Theo Nguyễn Văn Thưởng (2001) [6] Diều gà dạng hình túi ở thực quản chứa được khoảng 100 -120g thức ăn. Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn vào thẳng phần dưới thực quản và dạ dày không qua túi diều. - Thức ăn được làm ướt, trộn sau đó sau đó được các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn tiêu hóa từng phần. Tùy vào dạng thức ăn nên thời gian lưu lại của chúng ở diều ngắn hay dài.
* Tiêu hoá ở dạ dày: Dạ dày cơ và dạ dày tuyến - Dạ dày tuyến: Cấu tạo là dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ. Vách gồm màng nhầy, cơ và màng mô kết nối. Dạ dày tuyến tiết dịch không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường. Trong dịch chứa pepsin, men bào tử, axit clohydric và musin.
Sau khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn di chuyển từ dạ dày tuyến qua dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều của dạ dày cơ. - Dạ dày cơ: Cấu tạo từ cơ vân, hình đĩa hơi co lại ở phía cạnh. Theo Phạm Ngọc Thạch (2000) [5] Dạ dày cơ không tiết dịch mà từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ.